Wednesday, 14 June 2017

"BÀ NGỰA" TRONG QUỐC ÂM THI TẬP CỦA NGUYỄN TRÃI - Cao Hữu Lạng

TB

Trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi có ba tổ hợp từ “bà ngựa”
- Bà ngựa gầy thiếu kẻ chăn (bài số 1)
- Bà ngựa dù lành nào Bá Nhạc (bài số 114)
- Rợ đất khôn cầm bà ngựa dữ (bài số 137)
Bài số 1 và 137, “bà ngựa” thể hiện bằng mã chữ 馭, bài số 114 bằng mã chữ 婆 馭. Cả hai mã chữ này đều đọc là “bà ngựa”.
Qua ý nghĩa của ba bài thơ trên người ta có thể hiểu “bà ngựa” trong những trường hợp này đều có nghĩa tương đương với con ngựa ngày nay. Mặc dù vậy, người ta không khỏi bỡ ngỡ. Khác với “đầu cá”, tuy chỉ xuất hiện một lần trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi “Trong nuôi cá được ngàn đầu” (bài số 154), nhưng người ta dễ chấp nhận, vì tục ngữ có “cá kể đầu, rau kể mớ”.
Trong ca dao và truyện cổ người ta thấy xuất hiện những loại từ: “ông” trong ông voi, “chú” trong chú chuột. “cậu” trong cậu gà, “cái” trong cái cò, còn phần lớn là loại từ con. Bài Lý ngựa ô dân ca Nam Bộ còn giữ được từ “lục lạc” (Lục lạc đồng đen). Lục lạc là từ cổ, nay được thay bằng nhạc. Từ điển Pigneau de Béhaine năm 1772, từ điển của Taberd năm 1877 cho đến tự vị của Huỳnh Tịnh Paulus Của sau này đều có ghi được từ lục lạc, nhưng không có “bà ngựa”. “Bà ngưa” đã đưa người ta từ bỡ ngỡ đến băn khoăn. Nhất là từ “bà”. Liệu “bà ngựa” có bao hàm nghĩa chỉ con ngựa đực không?
Lần tìm trong các từ thư và các từ điển cổ, “bà ngựa” vẫn không thấy bóng chim tăm cá. Lâu nay đành mặc nhiên coi đây là trường hợp cá biệt, để chờ tìm thêm những thực chứng... Thì sách Nôm đã giúp ta gỡ mối băn khoăn đó.
Hồng nghĩa giác tư y thư, sách do Thái y viện triều Lê in ra năm Vĩnh Thịnh thứ 13 (1717), bài Nam dược Quốc ngữ phú có câu “Xích tiểu đằng là dây răng bà ngựa” và “Mã hành, lấy não bà ngựa”(1).
Như thế, “bà ngựa” tức là con ngựa, mang nghĩa trung tính, có nghĩa bao hàm cả ngựa đực. “Bà ngựa” không phải là trường hợp cá biệt nữa.
“Bà ngựa” xuất hiện trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi thế kỉ XV và trong Hồng nghĩa giác tư y thư thế kỉ XVIII. Có lẽ về sau nó đã được thay thế bằng “con ngựa”.
Ngôn ngữ vốn có quy luật đơn giản hóa và loại trừ những trường hợp cá biệt.
“Bà ngựa” có lẽ rơi vào quy luật này(2)
CHÚ THÍCH
(1) Theo bản dịch của sách Hồng nghĩa giác tư y thư, Nxb Y học, Hà Nội, 1978, tr. 41, chú thích “Mã hành: ngọc hành con ngựa, đây giải là não bà ngựa khôn rõ nghĩa”... Có ý kiến cho rằng chữ não (腦) là lầm của chữ nhục (肉) và cức (亟).
(2) Bài viết được sự góp ý của giáo sư Nguyễn Sĩ Lâm, xin ghi lời cảm ơn.

TB

VÀI ĐIỂM BÀN THÊM NHÂN ĐỌC SÁCH CÁC TRẤN TỔNG XÃ DANH BỊ LÃM VÀ BẢN DỊCH
Sách các trấn tổng, xã danh bị lãm(1), là một văn bản viết bằng chữ Hán chữ Nôm, hiện đang bảo tàng tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Sách đã dịch có nhan đề: Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX (thuộc các tỉnh từ Nghệ Tĩnh trở ra)(2). Sau thời gian sử dụng bản dịch và tiếp xúc với bản gốc, chúng tôi xin trao đổi với các dịch giả hai ý kiến chính sau đây.
- Một số vấn đề văn bản Bị lãm
- Những ưu điểm và nhược điểm của bản dịch.
I. Một số vấn đề về văn bản bị lãm
Trong bài Bước đầu tìm hiểu văn bản Các trấn, tổng, xã danh bị lãm và Tình trạng sách các trấn, tổng, xã danh bị lãm và công việc phiên âm biên soạn các tác giả Tên làng xã đã bỏ nhiều công sức khám phá ra những giá trị của các nguyên bản. ý kiến của chúng tôi nhìn chung là dựa vào những thành tựu đó mà bàn thêm.
1. Bị lãm với chính sử
Bị lãm là một tập hợp thống kê tỉ mỉ tên các đơn vị hành chính từ trấn, phủ, huyện đến xã, thôn trang, trại và những tên đất cấp tương đương trong một phạm vi rộng từ Nghệ Tĩnh trở ra. Ngoài những tên đất, Bị lãm còn có nhiều dòng chú thích ghi được những chi tiết sống động của xã hội đương thời. Xin nêu một vài dẫn chứng so sánh với Quốc Triều tránh biên toát yếu(3).
a) Về chính sách chể độ đối với làng xã bị phiêu bạt Quốc triều viết: “Năm ất Sửu (1805), tháng 5, chiếu rằng: (...Dân nào lưu tán từ năm)” Nhân Tuất (1082) về trước mà điền thổ đã cho quân lính nhận lĩnh canh rồi thời nay không cho lính cày nữa, phải để đó mà chờ lưu dân trở về cho nó cày, lại tha thuế và tha kén lính, nếu từ năm nay đến năm Đinh mão (1807) lưu dân chưa về, thời điểm điền thổ ấy cho dân làng khác, ai xin lãnh trưng trước thời được, nhưng hễ năm nay vào sổ nhận trưng thời năm sau phải nạp thuế và đi lính; còn dân nào lưu tán từ năm Quý hợi (1803) về sau thời điền thổ hãy cho quan quân cày chờ khi nào dân về sẽ cấp lại, đến như sự nạp thuế và đi lính cũng phải trải qua năm sau khởi hành; không được theo lệ tha cho 3 năm” (tr. 63).
Năm Bính Dần (1806), tháng 7 đối với dân lưu tán có chiếu rằng: “phải chiêu dụ chúng nó về nhà làm ăn, như về tại năm Ất Sửu (1805) hoặc năm Bính Dần (1807) thời thuế từ năm ấy đến năm Kỷ Tỵ đều tha cho cả; nhưng nếu năm Đinh Mão (1807) mới về cũng tha thuế từ năm Đinh Mão đến năm Kỷ Tỵ chớ không cần nệ theo niên hạn mà năm ngoái đã định (tr66)”
Vấn đề nói trên, Bị lãm có hàng trăm làng xã ghi dòng chú viết tên năm Đinh Mão, Mậu Thìn, Kỷ Tỵ. Chẳng hạn như ba xã Giáo Liên, Phú Nhuận, Cầm Đàn thuộc tổng Bản động huyện Lục Ngạn phủ Lạng Giang xứ Kinh Bắc; “Phiêu bạt năm Đinh Mão (1807) năm Kỷ Tỵ” (1809) phục hồi (tr. 76, bản dịch).
b) Về việc lính. Chúng ta đã biết, tháng 6 năm 1892 Gia Long chiếm xong Bắc Hà. Tháng 7 định phép giản binh. Quốc triều viết: “Kinh bắc Hải Dương, Sơn Nam Thượng cứ 7 xuất đinh lựa một tên lính. Tuyên Hưng, Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Quảng Yên thời cứ 10 suất đinh lựa một tên lính...”
Trong Bị lãm không ghi số đinh tất cả các địa phương, nhưng những dòng chú sau đây thuộc những làng xã đã phiêu bạt thể hiện việc kê khai này rất triệt để.ở huyện Đông An phủ Khoái Châu trấn Sơn Nam Thượng có đoạn viết: “Sau đây là 4 xã phiêu bạt chưa thành án, không có người khai vào sổ: xã Ngô Xá đinh cũ là 16, xã Bình Hồ đinh cũ là 87. Xã Triều Cầu đinh cũ là 14” (tr. 52).
Bị lãm viết về châu Văn Uyên, châu thất Tuyền như sau “các trại người nùng phải nộp thuế bạc (tr91, 94)”
Ngoài ra Bị lãm còn lưu ý đến Hoa Kiều: “ở châu Hạ Lạng có 23 phố chợ thuộc các phố khách cổ Lạc, Tĩnh oai, Nà Lợi” (tr.95) và dân tộcl ít người: “Mán, Nùng áo trắng”
Qua những tư liệu trên đây chúng tôi thấy Bị lãm phản ánh rất kịp thời công việc thi hành chính sách cai trị của chính quyền mới. Đó là một đặc điểm nổi bật của Bị lãm.
2. Về tác giả Bị lãm
Theo tác giả Tên làng xã thì: “Bị lãm ” là một loại sách công cụ của chính quyền cấp cao để tiện tra tìm mỗi khi cần đến (tr5). Vấn đề này xin trình bày cụ thể hơn. Dựa vào phạm vi khai báo địa danh là từ đèo Ngang trở ra bắc và mục đích cai trị mà tài liệu thể hiện, chúng tôi nghĩ đến sự ra đời của các sách làm theo lệnh của Gia Long, nhưng điều này Quốc triều không thấy ghi Quốc triều chỉ viết Gia Long giao cho Binh bộ thượng thư Lê Quang Định biên soạn Nhất thống địa dư chí mà thôi.
Tác giả của Bị lãm, theo chúng tôi, có thể là Tổng chấn Bắc Thành Nguyễn Văn Thành. Theo dõi trong Quốc triều thì những sự kiện đã nêu ở trên phần lớn là những ý kiến tâu trình của quan Tổng trấn được Gia Long đồng ý. Muốn thực hiện tốt nhiệm vụ, Văn Thành không thể không có những tài liệu cần thiết trong tay. Xét về mặt quyền lực mà nói thì ngoài vua ra, chỉ có lệnh của quan tổng trấn mới sai khiến được các quan trấn địa phương Bắc Thành.
Ở đây có một mắc mớ là Bị lãm ghi chép cả trấn Thanh Hoá và Nghệ An, đó là hai trấn ngoài tầm tay của Tổng trấn Bắc Thành. Để giải quyết điều băn khoăn này, trước hết, ta có thể tìm hiểu tình hình địa lý hành chính và quan hệ các trấn ở Đàng ngoài.
Đất nước Việt Nam qua các đời cho biết: “sau khi thắng đựơc nhà Tây Sơn, nhà Nguyễn (...) đặt Bắc Thành thống nhiếp các trấn ở miền Bắc và Gia Định Thành thống nhiếp các trấn ở miền nam.Tại miền Trung, xung quanh kinh đô thì đặt 4 dinh trực lệ là dinh Quảng Đức, dinh Quảng Trị, đinh Quảng Bình, dinh Quảng Nam.... phía bắc Quảng Bình là các trấn Nghệ An và Thanh Hoá....”(4). Sự phân chia trên ở đầu đợi Nguyễn chưa phát huy hết hiệu lực. Trong thực tế theo Quốc triều ghi chép thì sự chia biệt giữa 2 khu vực Đàng Trong, Đàng Ngoài vẫn còn khá rõ nét. Xin trích vài dòng trong hàng trăm dòng ở Quốc triều để làm chứng: “Năm 1803, tháng giêng, làm phép duyệt tuyển từ Quảng Bình trở vào” (tr53) “tháng 2, giảm thuế điền năm ấy cho các trấn từ Nghệ An trở ra Bắc Thành” - (tr54)vv... Ngược lại, quan Tổng trấn Bắc Thành cũng có lần tâu lên vượt ra ngoài lãnh địa của mình. Chẳng hạn trong tờ tâu năm 1810, Nguyễn Văn Thành viết: năm trấn phía trong Bắc Thành đã bỏ sổ thường hành(5) rồi còn 6 trấn phía ngoài và trấn Thanh trấn Nghệ chưa bỏ sổ thường hành; nay xin sửa lại y như một. Sớ dâng lên, Ngài giao Đình thần bàn, để thi hành” (tr76). Quốc triều còn ghi nhiều lần Tổng trân Bắc Thành khi kinh lược Thanh Nghệ như năm Minh Mệnh 5 (1824): “Khiến Tổng trấn Bắc Thành là Lê Chất thống lãnh 4 vệ lính Kinh đi Kinh lược các địa phương ở Thanh Nghệ” (tr.125)
Như vậy thì trong việc xây dựng Bị lãm quan Tổng trấn có thể yêu cầu quan trấn Thanh Hoa, Nghệ An phối hợp mà không bị chối từ. Hai là các hiện tượng các trấn Thanh, Nghệ chỉ được ghi chép sơ lược. Trong bài Bước đầu tìm hiểu văn bản sách Các trấn tổng, xã danh bị lãm, ông Lê Hiệu trình bày ba bản so sánh giữa A. 570 với Lịch triều hiến chương loại chí ở trấn Sơn Tây và Hải Dương. Riêng ở trấn Nghệ An thì còn so sánh thiêm với Nghệ An ký nữa. Kết quả hai trấn trên còn có so sánh thêm với Nghệ An ký nữa..kết quả hai trấn trên có những số liệu khá gần nhau. Còn Nghệ An thì theo ông Lê Hiệu, “A570 bỏ sót mất 4 phủ miền núi Nghệ An là Quỳ Châu, Ngọc Ma, Lâm An, Trấn Tĩnh gồm tất cả 11 huyện, 134 xã không rõ lý do” (tr16). Theo chúng tôi có lẽ vì trấn Nghệ An không trực thuộc
Bắc Thành nên đã dẫn đến sai sót trên. Trong Bị lãm còn thấy nhiều trấn ghi cụ thể niên đại làng xã phiêu bạt và có một sổ bổ sung bằng chú thích. ở phần Thanh Nghệ thì chép chung chung và không có dòng bổ sung bằng chú thích. Hiện tượng đó cũng là do quan hệ lỏng lẻo trên mà ra. Vì vậy việc ghi chép về Thanh Nghệ không được chi tiết và đầy đủ bằng phần ghi chép về Bắc Thành.
Từ những điều phân tích trên, có thể nghĩ sự có mặt của hai trấn Thanh, Nghệ trong Bị lãm là một phụ lục.
Như vậy thì Tổng trấn Bắc Thành Nguyễn Văn Thành là người chủ trương xây dựng Bị lãm. Vai trò của Văn Thành trong Bị lãm có thể so sánh với vai trò của Tổng trấn Bắc Thành Lê Chất trong Bắc Thành Chí lược(6) ra đời sau Bị lãm ít lâu.
3. Quá trình hình thành Bị lãm
Vể vấn đề này các dịch giả đã “ngờ rằng... nguồn gốc của nó có thể là từ những bản kê khai của các trấn, xứ, đạo, tập hợp lại” (tr5) chúng tôi hoàn toàn tán thành nhận xét này. Bởi vì đã có những tiền lệ như thế trong lịch sử.
Gần đây nhất, từ năm 1931 đến 1935, Ngô Vi Liễn lần lượt được bổ làm tri huyện Cẩm Giàng (Hải Dương), Quỳnh Côi (Thái Bình). Bình Lục (Hà Nam). Tại những nơi đó, ông đã biên soạn 3 cuốn địa dư cấp huyện(7), với nội dung gồm các phần như sau: “Vị trí, diện tích, sông ngòi, dân số, thôn giáp, canh phòng, thuế ngạch, canh nông kỹ nghệ thương mại, đê đường, cầu cống, việc học, việc hộ sinh, danh lam thắng cảnh, danh nhân, phong dao, tục ngữ, đình chùa, sự tích thần cùng câu đối hoành phi. Sức về các xã cứ những mục hỏi ấy, lấy sự thực mà trả lời.... rồi lại nhân những lúc đi kinh lý, hỏi thêm và tra cứu các sách khác, bổ sung vào (Địa dư huyện Cẩm Giàng- Nhời nói đầu). Trước đó nữa, cũng của Ngô Vi Liễn, là cuốn Nomemclaturedes communes di Tonkin)(8). Những tư liệu dùng để viết cuốn này là dựa vào những bản kê khai trong cuộc điều tra dân số năm 1927. Thời gian này soạn giả làm Tham tá Sở Lưu trữ và Thư Viện Đông Dương nên có điều kiện đọc được các tài liệu nói trên.
Trong quá khứ xa hơn, có cuốn Dư địa chí của Nguyễn Trãi. ông Lê Xuân Diệm trong bài Nguyễn Trãi với dư địa chí(9) đã dựa vào Đại Việt sử ký toàn thư, chứng minh Nguyễn Trãi nhờ vào những kết quả của công cuộc tổng điều tra thiên nhiên và xã hội vào những năm Đinh Mùi (1427), Mậu Thân (1428)... đến năm Quý Sửu (1433) để đúc kết nên một tác phẩm nổi tiếng chỉ mất 10 ngày trong năm 1435.
Đồng thời với Bị lãm, là Nhất thống chí tác giả Lê Quang Định nói đến việc lấy tài liệu là: “sức cho quan trấn từng nơi... ” (bài tựa).
Xin trở về Bị lãm. Theo những dòng chú thích thì lớp lang của cuộc điều tra là lấy làng xã làm cơ sở. Làng xã chuyển tài liệu lên huyện. Huyện tổng hợp, bổ sung rồi đưa lên phủ. Cứ như thế mà tới dinh tổng trấn. So sánh nội dung những dòng chú thích trong Bị lãm với Quốc triều thì quan Tổng trấn đã nhiều lần tổ chức điều tra từng mặt riêng biệt.
Để phục vụ chính sách cai trị giải quyết những vấn đề trước mắt Nguyễn Văn Thành cho thư lại chép toàn bộ tên làng xã theo hệ thống thông thuộc và chỉ ghi chú những trường hợp đặc biệt để dễ theo dõi Bị lãm là bản trích lục những tài liệu điều tra thành sách.
4. Thời gian Bị lãm ra đời.
Về thời gian biên soạn sách Bị lãm, trước nay đã có không ít người đề cập tới. Lần thứ nhất, một người nào đó đã ghi vào nguyên bản sách Bị lãm bốn chữ bằng mực xanh: “Minh Mệnh dĩ tiền” ý nói thời gian Bị lãm ra đời là từ Minh Mệnh trở về trước. Lần thứ hai, Trần Văn Giáp trong Tìm hiểu kho sách Hán Nôm viết: “ Bị lãm chỉ là một bản thống kê các tên địa lý, thời đầu thế kỷ XIX, trong sách có ghi sách làm năm Gia Long (1807), nhưng trong nội dung ta thấy một số tên mới xuất hiện thời Minh Mạng (sau năm 1820)(10). Lần thứ 3 cụ Trần Huy Bá, ông Nguyễn Vinh phúc trong Đường phố Hà Nội(11) khi nhắc đến sách Bị lãm có viết dòng chú ngắn gọn: “soạn năm 1807” (tr515). Lần thứ tư các tác giả Tên làng xã, chủ yếu là ông Lê Hiệu đã dùng nhiều đã dựa vào năm Đinh Mão (1807) Mậu Thìn (1808) kỷ tỵ (1809) là những năm Bị lãm ghi một số địa phương có biến động để khẳng định cụ thể văn bản Bị lãm phải viết sau những năm đó, từ 1810 đến 1813.
Chúng tôi đồng ý sách ra đời ở thời Gia Long, chỉ trao đổi thêm về năm biên soạn sách.Đọc lại nguyên bản những dòng chú có ghi năm kể trên ở sách Bị lãm, chúng tôi phân biệt được có hai thứ chữ, hai cách trình bày.
- Những trang 1a, 19a, 29a, 31a, 39b... (Phần Hải Dương) dòng phụ chú viết đúng quy định theo truyền thống chữ nhỏ hơn lệch về bên phải, nét chữ và màu mực đều hoàn toàn giống với chính văn Đáng lưu ý là ở đây chỉ xuất hiện những biến động thuộc năm Đinh Mão dấu hiệu đó khẳng định sách được biên soạn sau năm Đinh Mão, tức từ khoảng từ Mậu Thìn (1008) trở đi.
- Những trang 8a, 9a, 11b, 12a, (phần kinh bắc) thì dòng chú chen vào giữa hai dòng chính văn. Nét chữ, màu mực có khác đặc biệt là chỉ ở những dòng chú này mới xuất hiện liền hai hoặc ba trong số 3 tên năm Đinh Mão, Mậu thìn, Kỷ tỵ (đôi khi có trở lại một năm Đinh Mão). Những điểm khác nhau đó chứng tỏ sách được bổ sung sau năm Kỷ Tỵ tức là từ năm 1810 trở đi.
Vì sao quan Tổng trấn lại lấy năm Đinh Mão để chỉ đạo bước thứ nhất việc điều tra? ở phần so sánh Bị lãm với chính sử chúng tôi đã trích chiếu của Gia Long. Xin nhấn mạnh lại những chỗ cần thiết. Năm ấT sửu (1805): “Nừu từ năm nay đến năm Đinh Mão (1807) lưu dân chưa về thời điểm thổ ấy cho dân làng khác”. Tờ chiếu năm Bính Dần (1806) lại viết “... nhưng đến năm Đinh Mão mới về cũng tha thuế từ năm Đinh Mão đến năm Kỷ tỵ...” Như vậy dùng năm Đinh Mão làm mốc là hợp lý và sau năm Kỷ Tỵ sách lại được bổ sung cũng là hợp lý và sau năm Kỷ Tỵ sách lại được bổ sung cũng là thực hiện theo chiếu lệnh của nhà vua (sau năm Kỷ Tỵ Quốc triều không nói về vấn đề này nữa Bị lãm cũng không ghi thêm nữa).
Chúng tôi cho công việc biên soạn bắt đầu từ năm 1808 và hoàn thành trong năm đó vì ba lẽ:
1. Theo đúng tinh thần của chiếu lệnh, các địa phương phải lấy số liệu cho hết năm Đinh Mão mới được gửi tờ trình lên.
2. Tờ trình gửi lên theo thứ bậc mất vài tháng là nhiều.
3. Phần chính trong bị lãm ít nhất cũng có hai người viết, Toàn bộ số chữ của văn bản khoảng 3 vạn, việc ghi chép mất một hai tháng là cùng
Thời gian kể trên nếu so với nguyễn Trãi viết Dư địa chí mất 10 ngày thì đã nhiều. Nếu cộng cả thời gian điều tra thì Bị lãm có thê so sánh với Nhất thống địa dư chí của Lê Quang Định Tháng 11 năm 1803 nhận lệnh, tháng 11 năm 1806 hoàn thành, trong 1808 nhận lệnh, tháng 11 năm 1806 hoàn thành, đúng 3 năm còn Bị lãm bất đầu điều tra là tháng 5 năm 1805, hoàn thành trong 1808 là khoảng thời gian hợp lý. Sách đến tay chúng ta còn trải qua lần bổ sung về những diễn biến mới của làng xã phiêu bạt đến năm 1810 và một vài tên đất đổi thay ở thời Minh Mệnh.
Tóm lại, Bị lãm là cuốn sổ tay cai trị của quan tổng trấn Bắc Thành Nguyễn Văn Thành. Sách đã gói ghém những vấn đề của xã hội, lịch sử...một cách chi tiết cụ thể ở trong những dòng tên làng xã vào những năm đầu của đời Gia Long.
II. Những ưu điểm và nhược điểm của bản dịch
Về bản Tiếng Việt tên làng, xã chia ra làm 2 phần lớn:
Phần thứ nhất (thống kê các tên gọi từng địa phương) gồm những chữ đã được phiên âm và sắp xếp theo đúng trật tự của bản gốc. Phiên âm tên đất (hoặc tên riêng) khó có chỗ không có văn cảnh để mà suy sét những chữ hán nhiều cách đọc và cách đọc một số âm Nôm. Đúng như dịch giả đã thổ lộ: “Đọc thể nào thật khó giám định” (tr9) và tự nhận xét: “chúng tôi chưa có điều kiện đi đến từng địa phương khảo cứu các tên gọi trong sách có đúng với thực tế không. Đặc biệt các trấn và các xứ miền núi tên gọi ghi theo chữ Hán và chữ Nôm, rất khó phiên âm” (tr9). Cần nhấn mạnh thêm là nhiều địa danh đặc biệt địa danh vùng dân tộc ít người ghi bằng chữ Hán, Nôm thường phải dùng âm gần đúng. Chẳng hạn âm Mèn phải ghi thay bằng chữ Miên, âm Quạng phải ghi thay bằng chữ Quang. Gặp những chữ này, nếu cứ phiên, nếu cứ phiên đúng theo nguyên bản thì đã là sai so với thực tế. Để khắc phục hoàn cảnh không đi được thực địa các tác giả đi hỏi những người hiểu biết ở gần. Nhiều chữ đã phiên đúng, như chữ? đọc là Khuổi chữ? đọc là Xối.
Tài liệu tham khảo để phiên âm Bị lãm có thể nói không nhiều và ít hiệu quả, vì những sách chữ Hán khác không giúp được cho công việc phiên âm; những sách Việt phiên từ chữ Hán ra cũng chưa phải là chuẩn. Trong bốn quyển sách của Ngô Vi Liễn nói trên kia, thì quyển Tên làng xã Bắc Kỳ có lẽ được tác giả tên làng xã tham khảo nhiều nhất.
Rất tiếc quyển tên làng xã Băc kỳ phần lớn cũng chỉ là bản phiên âm từ những bản khai bằng chữ Hán Nôm nên số lượng sai cũng nhiều. Trong 3 cuốn sau, Ngô Vi Liễn trực tiếp điều tra biên soạn đã sửa được một số.Thí dụ ở huỵên Cẩm Giàng đã chữa Tràng Kinh là Tràng Kênh, Hàn Giang là Hàn Giàng, Đàm Lộc là Điềm Lộc. ở huyện Quỳnh Côi: Tang Thác là Tang Giá, Tiên Bố là Tiên Bá. Cùng loại sách biên soạn có kết hợp với điều tra trực tiếp ở điạ phương, còn có thể kể đến Hưng yên địa chí(12) Bắc Giang địa chí(13) của Trịnh Như Tấn... Những sách này nếu dịch giả Bị lãm biết tới, chắc chắn sẽ tránh được một số sai sót.
Phần thứ 2, sách trình bày theo vần chữ cái, tất cả các tên đất đã được phiên âm. Sau mỗi tên đất có ghi quy mô và địa điểm. Chẳng hạn “Đào Xá (xã): Tổng Hạ Bì, huyện Bất Bạt, phủ Quốc oai, trấn Sơn Tây”. Phần này theo chúng tôi nếu xử lý như một sách dẫn bình thường thì vừa đơn giản, vừa tiện sử dụng, vừa tiết kiệm được giấy. Cụ thể sau mỗi tên đất chỉ cần ghi số trang mà nó xuất hiện ở phần một và tên đất cấp trên của nó là đủ. Chẳng hạn “Đông Quan (huyện): trang 65 tỉnh Thái Bình” “Điệp Sơn (xã): Trang 55, huyện Duy Tiên, tổng Hồng Khê”... Làn như vậy còn giúp cho người tra cứu tìm ngược lên phần một để tìm những tên đất khác trong một tổng, một huyện... được nhanh chóng.
Nhìn chung bản dịch có mấy ưu điểm:
Thứ nhất: Dịch giả đã chọn được một số văn bản giá trị nhiều mặt.
Thứ hai: Bổ sung được một số tên đất mà Bị lãm sót.
Thứ ba: Có in chữ Hán kèm theo để người đọc tiện tham khảo.
Về nhược điểm:
Thứ nhất: chưa điều tra được thực địa, nên còn một số cơ suất khi phiên âm các địa danh.
Thứ hai: Phần biên soạn sắp xếp còn chưa kỹ. Giá còn phần tra cứu theo hình chữ thì rất tốt.
Dẫu sao thì Tên làng xã ra đời cũng đã được giới thiệu thêm được một khía cạnh phong phú của kho sách Hán Nôm: loại sách biên khảo Không cầu toàn, những sách này chỉ cần phiên dịch và làm sách dẫn cho tốt là nhất định sẽ góp phần vào việc dùng văn bản để giải quyết văn bản, đáp ứng nhu cầu tra cứu nhiều mặt của chúng ta hiện nay.
CHÚ THÍCH
(1) Các trấn tổng xã danh bị lãm, ký hiệu A. 570, Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, từ đây trở xuống chúng tôi viết tắt là Bị lãm.
(2) Dương thị The, Phạm Thị Thoa dịch, biên soạn (ông Lê Hiệu tham gia bài khảo cứu, Bước đầu hiểu văn bản sách các trấn, tổng, xã danh bị lãm). Nxb KHXH, H., 1981. Từ đây trở xuống chúng tôi viêt tắt là Tên làng xã.
(3) Nhóm nghiên cứu Sử địa xuất bản, Sài Gòn 1971, (Theo bản dịch năm 1925). Từ đây trở xuống chúng tôi viết tắt là Quốc triều.
(4) Đào Duy Anh: Đất nước Việt Nam qua các đời. Nxb Khoa học Hà Nội, 1964.
(5) Sổ đinh nhà Lê thời người sinh thâm không kể, người chết rồi không trừ, cho nên gọi là sổ thường hành. Lời chú của người dịch.
(6) Bắc Thành chí lược còn có tên là Bắc Thành địa dư lục. Sách này có bài tựa do Nguyễn Văn Lý viết, có đoạn như sau: “... Còn sách Bắc Thành chí lược này, mới có trong niên hiệu Minh Mệnh (1820 - 1840) triều ta, từ thời quan Tổng trấn Lê Chất làm quan ở Thăng Long, họp các nhà nho lại mà làm ra...”. Sách Lược truyện các tác gia Việt Nam do Trần Văn Giáp chủ biên (Nxb KHXH, H., 1971) ghi nhận Lê Chất là một tác giả.
(7) Địa dư huyện Cẩm Giàng, Lê Văn Tân, H., 1931.
Địa dư huyện Quýnh Côi, Lê Văn Tân, H., 1933
Địa dư huyện Bình Lục, Lê Văn Tân, H., 1935
(8) Nhà in Lê Văn Tân, H.,1928. Chúng tôi dịch là Tên làng xã Bắc Kỳ. Từ đây trở xuống, chúng tôi dùng theo tên dịch này.
(9) Kỷ niệm lần thứ 600 ngày sinh Nguyễn Trãi. Tham luận hội nghị khoa học về Nguyễn Trãi tại Thành phố Hồ Chí Minh tháng 7 năm 1980. Viện Khoa học xã hội tại thành phố Hò Chí Minh xuất bản, 1980.
(10) Thư viện Quốc gia xuất bản, H., 1970, tr. 345.
(11) Nhà xuất bản Hà Nội, Hà Nội, 1979.
(12) Nhà in Ngô Tử Hạ Hà Nội, 1934.
(13) Nhà in Ngô Tử Hạ Hà Nội, 1937.

TB

MỘT BẢN TRUYỀN KỲ MẠN LỤC IN
NĂM 1712 VỪA TÌM THẤY
Vào cuối năm 1984, nhân dịp đi công tác tại Pháp, với sự giúp đỡ của nhà nghiên cứu Hán Nôm Tạ Trọng Hiệp và nhà sưu tầm khảo tiểu thuyết cổ phương Đông Trần Khánh Hạo chúng tôi có được một bản in ảnh bộ Truyền Kỳ mạn lục “cựu biên” (từ đây trở xuống gọi tăt là Cựu Biên TKML) của Nguyễn Dữ, do Nguyễn Tự Tín ở phường sách Hồng Lục khắc in năm Vĩnh Thịnh tám (1712). Bản gốc hiện để tại Đông Dương văn khố Tokyo, Nhật Bản(1).
Sau đây là những điểm đáng chú ý về cách trình bày, bài tựa và chính văn của sách TKML mới tìm thấy.
Về cách trình bày của Cựu Biên TKML
Những mới mẻ do Cựu Biên TKML mang lại cho chúng ta, trước hết là ở cách trình bày. KML mới tìm thấy 4 quyển. Quyển một 49 tờ, 97 trang có chữ; Quyển hai 47 tờ 94 trang có chữ; quyển ba 47 tờ, 93 trang có chữ, Quyển bốn 41 tờ, 82 trang có chữ. Nừu tính cả phần phụ ở đầu sách gồm bìa trong 1 tờ 2 trang, bài tựa 1 tờ 2 trang, mục lục 1 tờ 2 trang, thì ấn phẩm có độ dày tổng cộng là 187 tờ, 372 trang có chữ
Ở trang đầu tờ bìa trong, ngay giữa trang, từ trên xuống có 4 chữ “Truyền kỳ mạn lục” khắc nổi viền, đây là tên sách do chính Nguyễn Dữ đặt. Góc trên bên phải, từ trên xuống, có dòng chữ “Loại am hội chú bản”, cho biết đây là bản do Loại Am tập hợp các chú thích của nhiều người về TKML của Nguyễn Dữ. Liền ngay dưới các chữ “Loại Am hội chú bản”, có hai dấu ấn hình chữ triện trong đó có một dấu ấn tên là người hội chú. Góc dưới bên trái, từ trên xuống, có dòng chữ “thư phường Hồng Lục Nguyễn Tự Tín tiêm tử”, chỉ báo nơi in sách là Thư phường Hồng Lục, và người tổ chức khắc in là Nguyễn Tự Tín(2).
Ở trang 2 tờ bìa trong, ngay giữa trang, từ trên xuống có dòng chữ “Vĩnh Thịnh vạn vạn niên chi bát tuế tại thìn nguyệt tại như cốc đán san hành”(3), nói lên năm in và phát hành ấn phẩm. “Vĩnh Thịnh vạn vạn niên chi bát” tức 1712, đây là một bản in có niên đại sớm hơn tất cả các bản in TKML trong nước hiện biết đến nửa thế kỷ(4).
Tiếp sau tờ bìa trong là phần tựa của sách, mang tiêu đề “cựa biên truyền kỳ mạn lục tự”. Bài tựa do Đại An Hà Thiện Hán soạn, Hậu học Tùng Châu Nguyễn Lập Phu tiên. Cuối bài tựa có ghi những chữ “Cựu Biên TKML” tự tất. Cho biết bài tựa đến đây kết thúc(5).
Kế tới là phần mục lục, ghi rõ tên các tác phẩm in trong từng quyển. Quyển một có Hạng Vương từ ký, Khoái Châu nghĩa phu truyện, Mộc miên thụ truyện, Trà Đồng giáng đản lục, Tây Viên kỳ ngộ ký. Quyển 2 có Long đình đối tục lục, Đào Thị nghệp oan ký, Tản Viên từ Phán sự lục, Từ thức tiên hôn lục. Phạm Tử Hư du Thiên Tào lục. Quyển 3 có Xương Giang yêu quái lục, Na Sơn tiểu đối lục; Đông Triều phế tự truyện, Thuý Tiên truỵên, Đà Giang da ẩm ký. Quyển 4 có Nam Xương nữ tử lục, Lý Tướng quân truyện, lệ Nương truyện, Kim Hoa thi thoại ký, Dạ xoa bộ soái lục. Như vậy mỗi quyển có 5 truyện (hoặc lục, hoặc ký); toàn bộ sách có 20 truyện tất cả. Cuối mục lục có ghi những chữ “Mục lục tất”, cho biết bản mục lục đến đây là hết.
Sau phần phụ ở phần đầu sách trên đây, là phần chính văn, tức nội dung chủ yếu Cựu Biên TKML. Khác với phần tựa mỗi trang 7 dòng, mỗi dòng 17 chữ, phần chính văn mỗi trang 9 dòng mỗi dòng thường có từ 18 đến 19 chữ lớn nhỏ không kể trường hợp có 2 hàng chữ nhỏ trong một dòng). Chữ lớn là nguyên văn TKML của Nguyễn Dữ, chữ nhỏ là cước chú của nhiều người khác, in thành 2 hàng trong một dòng. Cuối mỗi truyện (trừ Kim Hoa thi thoại ký) đều có lời bình tác giả, khởi đầu bằng hai chữ “Ô hô” (than ôi) Cuối mỗi quyển đều có dòng chữ “Truyền kỳ mạn lục quyển chi chung” đánh dấu quyển ấy đến trang ấy là chấm dứt.
Cựu Biên TKML không có phần dịch nghĩa bằng chữ Nôm như ở các bộ tân biên TKML.
Về bài tựa của Cựu biên TKML mang lại cho chúng ta
Những mới mẻ do Cựu Biên TKML mang lại cho chúng ta còn ở bài tựa. Nguyên văn chữ Hán của bài tựa như sau:
Phiên âm: “Cựu biên TKML tự”
Kỳ lục nãi Hồng Châu chi Gia Phúc nhân Nguyễn Dữ sở trứ (Dữ, di lữ thiết, hải trung châu thương thạch sơn giã). Công tiền triều tiến sĩ Tường phiêu chi trưởng tử giã (công Chúng Hồng Đức nhị thập thất miên Bính Thìn khoa Tiến sĩ, sĩ chí thượng thư). Thiếu cù vu học, bác lãm cường kí, dục dĩ văn chương thế kỳ gia, Việt lĩnh hương tiến, luỹ trúng hội thí trường, Tể vu Thạch Tường huyện, tài đắc nhất niệm, từ ấp dưỡng mẫu dĩ toàn hiếu đạo, tức bất thành thị phàm kỷ dư sương, ư thị bút thư lục dĩ ngụ ý yên. Quan kỳ văn từ, bất xuất Tông Cát phiên ly chi ngoại (cù Tông Cát trứ Tiển đăng tân thoại) nhiên hữu cảnh giới giả, hữu quy châm giả, hữu quy châm giả, kỳ quan ư thế giáo khí tiểu bổ văn.
Thời (cổ “thời ” tự) Vĩnh Định sơ niên (Nguỵ Mạc niên hiệu), thu thất nguyệt cốc nhật. Đại An Hà Thiện Hán cẩn chí.
Hậu học Tùng Châu Nguyễn Lập Phu biên.
Cựu biên Truyền kỳ mạn lục tự tất”.
Dịch nghĩa:
“Bài tựa Truyền kỳ mạn lục (theo bản cũ)
Sách {truyền kỳ mạn lục}(6) này do Nguyễn Dữ người Gia Phúc, Hồng Châu(7) soạn, (Dữ đọc di lữ thiết có nghĩa là hòn núi đá nhô lên trên bãi cát giữa biển)(8). ông là người con trai cả của cụ Tiến Sĩ triều trước Tương Phiêu, cụ này đỗ Tiến sĩ khoa Bính Thìn, năm Hồng Đức hai mươi bảy, 1496, làm quan đến chức Thượng thư). Thuở nhỏ {Nguyễn Dữ} học hành chăm chỉ, đọc rộng nhớ dai, muốn lấy văn chương nối nghiệp nhà, vượt Đỗ Hương tiến(9), nhiều lần trúng thi hội, làm tri huyện Thanh Tuyền. Nhưng mới được 1 năm thì ông từ bỏ huyện đường {về nhà} nuôi mẹ để làm tròn đạo hiếu, chân không bén mảng(10) tới chốn thành thị đã ngoài mấy sương, Thế rồi ông viết sách {Truyền kỳ mạn lục} này để gửi gắm tâm sự. Xem lời văn, thấy không ra ngoài phiên dậu Tông Cát (Cù Tông Cát có soạn cuốn Tiểu đăng tân thoại). Tuy nhiên, sách Cựu biên TKML có nhiều {hàm ý} nhắc nhở, răn khuyên, tác dụng giáo dục đối với xã hội hẳn không phải là nhỏ!
Hôm nay (chữ “thời”) viết theo dạng cổ là ngày lành tháng Bảy, tiết thu, năm Vĩnh Định sơ niên (niên hiệu của nhà Nguỵ Mạc)(11). Hà Thiện Hán người huyện Đại An kính cẩn đề tựa.
Kẻ hậu học Nguyễn Lập Phu, người Tùng Châu biên tập. Bài tựa “Truyền kỳ mạn lục” (theo bản cũ) đến đây là hết.
Bài tựa trên đây cung cấp cho nhiều hiểu biết quan trọng. Trước hết, hãy chú ý đến hai chữ “Cựu biên” trong “cựu biên Truyền kỳ mạn lục”. Nói “cựu biên”, không gì khác hơn là nhằm phân biệt với “tân biên”. Phải chăng lúc này, khi Nguyễn Lập Phu (tức Loại Am?) tiến hành biên tập lại bộ TKML để đưa in vào năm 1712, bên cạnh bản cũ của Nguyễn Dữ, còn có một bản mới, bản “tân biên TKML” do một người nào đấy soạn thảo? Ta có thể nghĩ đến Đại Hưng Hầu Nguyễn Thế Nghi, nhân vật sống cùng thời với Mạc Đăng Dung, đã “diễn nghĩa sách truyền kỳ”, lời văn cực đẹp (diễn truyền kỳ truyện nghĩa, văn tự tù mỹ) như lời ghi chép trong Công dư tiệp kí(12). Nếu điều phỏng đoán trên đây là gần với sự thật, thì trong các bản Tân biên truyền kỳ mạn lục tăng bổ giải âm tập chú (từ đây trở xuống viết tắt là Tân Biên TKML) hiện có(13), phần “giải âm” hoặc diễn nghĩa tức dịch ra văn Nôm là của Nguyễn Thể Nghi đến bản dịch khả tiếp cận ngày nay có gì thay đổi không, đó là vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu.
Thứ hai là vấn đề soạn niên tác phẩm TKML của Nguyễn Dữ cũng như dịch phẩm TKML của Nguyễn Thế Nghi. Từ trước tới nay khi đề cập đến tác phẩm TKML, chưa một nguồn tư liệu nào cho biết đích xác năm ra đời của bộ sách. Nhưng nếu bằng vào bài tựa trên đây, có thể kết luận rằng TKML thành sách trước Vĩnh Định sơ niên là năm Nguyễn Dữ đưa tác phẩm của mình cho Hà Thiện Hán đề tựa. Và dịch phẩm TKML của Nguyễn Thế Nghi có thể được khởi thảo ngay hoặc ít lâu sau cái mốc 1547 tức “Vĩnh Định sơ niên” đó.
Thứ ba là lai lịch những bài tựa trong các bản in TKML năm Cảnh Hưng hai mươi tư và Cảnh Hưng ba mươi lăm. Trong loại bản in năm Cảnh Hưng hai mươi tư (1763), bài tựa về cơ bản(14) vẫn là bài tựa của Hà Thiên Hán soạn năm Vĩnh Định sơ niên (1547), nhưng đến chữ “thời” (... kỳ hữu quan ư thế giáo khỉ tiểu bổ vân! Thời!” thì chấm dứt. Mãi đến cuối phần mục lục, mới thấy đề tiếp “Thời, liễu Chàng xã Nguyễn Bích gia bản trùng san, Cảnh Hưng nhị thập tứ niên xuân cốc nhật (Nay, đem ra in năm Cảnh Hưng thứ hai mươi tư, tiết xuân, ngày tốt)”. Người đọc nếu không biết tới bài tựa của Hà Thiện Hán, khó lòng hiểu được bài tựa trong bản in năm Cảnh Hưng ba mươi lăm (1774), bài tựa về cơ bản(15) cũng vẫn là bài tựa của Hà Thiện Hán, nhưng từ chữ “thời” trở đi đã thay vào một đoạn văn hoàn toàn mới “Tư Liễu Chàng xã trưởng Ngyễn Đình Lân đem sách diễn dịch ra và khắc in vào năm Giáp Ngọ niên gian, dĩ di vạn đại chi vi bản, di mãi thiên hạ chi quan chiêm dã” (Nay xã trưởng xã Liễu Chàng là Nguyễn Đình Lân đem sách diễn dịch ra và khắc in vào năm Giáp Ngọ (1774), nhằm lưu lại cho muôn đời dùng làm bản gốc và bán ra cho thiên hạ cùng xem). Liền ngay dưới những dòng chữ này, nơi “lạc khoản” còn có câu “Thời Cảnh Hưng tam thập ngũ niên xuân cốc nhật, Liễu Chàng xã Xã trưởng Nguyễn Đình Lân gia bản san” (Nay là năm Cảnh Hưng thứ ba mươi lăm, tháng xuân, ngày tốt, bản sách riêng của gia đình Nguyễn Đình Lân, Xã Trưởng xã Liễu Chàng, đem in lại). Xem các đoạn văn mới thêm vào trên đây, nếu không có dịp xúc tiếp với bài tựa Hà Thiện Hán ta dễ có cảm giác như toàn bộ bài tựa ở bản in TKML ở bản dịch Nôm TKML cũng do Nguyễn Đình Lân, chứ không phải Nguyễn Thế Nghi, thực hiện. Tất nhiên người đọc tinh ý sẽ phát hiện ngay những vá víu, lủng củng trong các đoạn văn kể trên. Chẳng hạn ở đoạn văn đầu, trên đã dùng chữ “thời” (nay), liền ngay dưới còn dùng tiến chữ “tư” (nay) nữa, trùng lặp về nghĩa. Hay ở đoạn văn thứ hai, các chữ “dịch”, “minh” “quan chiêm”... đều là những chữ dùng không chỉnh, chưa diễn đạt đúng ý người viết.
Nhưng vấn đề đặt ra là tại sao bài Tựa Cựu biên TKML của Hà Thiện Hán ở đây không được in lại đầy đủ? Tại sao bài tựa ở bản in 1763 dừng lại ở chữ “thời”, và bài tựa in 1774 phải thay đi đoạn cuối? lí do chính, theo chúng tôi nghĩ, có lẽ ở chỗ thư phường Liễu Chàng dưới thời Lê Trịnh khác với Thư Phường Hồng Lục trước đó nửa thế kỷ, không muốn giữ lại những chữ “Vĩnh Định sơ niên” như là một dấu vết của nhà Nguỵ Mạc” Trong ấn phẩm của mình.
Về chính văn cựu biên TKML
Những mới mẻ do cựu biên TKML mang lại cho chúng ta, sau cùng, là ở phần chính văn, Chí ít có thể phân phát hiện được 2 dị bản qua những chú thích của bản in TKML năm Vĩnh Thịnh tám. Dị bản thứ nhất có nhiều nét tương đồng với loại bản in năm Cảnh Hưng hai mươi tư và Cảnh Hưng ba mươi lăm. Dị bản thứ hai (cũng có thể nhiều hơn một dị bản) hiện nay đã mất hoặc chưa sưu tầm được. Giữa các dị bản, sự xuất nhập có thể nói là không ít. Hãy lấy trường hợp truyện Tân Viên kỳ ngộ (quyển I, truyện thứ 5) làm một trong nhiều thí dụ. Gọi loại bản in năm Vĩnh Thịnh tám, hay bản in của Thư phường Hồng Lục là bản A; loại văn bản in năm Cảnh Hưng hai mươi tư và Cảnh Hưng ba mươi lăm, hay bản in của Thư phương Liễu Chàng là bản B; loại bản chưa sưu tầm được là bản C; ta có bảng đối chiếu sau đây:

Bản A (hồng lục) Bản B (Liễu Chàng) Bản C (?)
Tờ Dòng Câu chữ khảo dị ( in nghiêng) Câu chữ tương ứng (in nghiêng) Câu chữ tương ứng (in nghiêng)
36a 5 Khách du Trường An ngụ cư Trường An
7 nhị nữ tử nhị nữ
8 hoan hoa huyên hoa
9 sinh thù sinh đãi sinh đãi
36b 2-3 cựu thời Thái sư tỳ nữ Cựu thị Thái sư tỳ thiếp
37b 4 Diệc tục ngâm viết tái tục ngâm viết
8 phân lưu nhẫn phân lưu nhẫn phân lưu bất
38b 3 nhân hí viết nhân hí chi viết
3 nhan sắc kiều như hoa nhan sắc đào như hoa
8 thi vân thi nhất thủ thi vân
39a 1 thiên trước lực tư trước ý
4 tương tư nhất độ tương tư nhất đoạn tương tư nhất đoạn
39b 1 thời cập nguyên tịch thời trực nguyên tịch
8 Bất biện kỳ vi mỗ hoa Bất biện vi mỗ hoa
40a 1 tòng tịch xúc tịch
6 Dương Thị, Mai Thị Mai Thị, Dương Thị
6-7 thiên sắc tương hiểu thiên tương hiểu
9 sinh điện yến điện yến
41b 5 học bác tài xa học bác tài xa học bác tài hoa
8 phong hương lạc bạc phong hương lạc mạc
43b 1 hồi viên hồi lan
2 oanh huỳnh hoàng oanh hoàng oanh
9 sinh vị kỳ phụ mẫu viết sinh vị phụ mẫu viết sinh bái bắc đường trần kỳ phụ mẫu
44a 4 thê noa chi lạc thê noa chi lạc phòng liêm chi bạn
5 Giả huỳnh song giả vân song giả vân song
7 tư nương chi cố tư nương cố
8 tài đáo Tây Viên hành đáo Tây Viên
44b 6 bất phụ tầm phương bất phụ tầm xuân bất phụ tầm xuân
45a 1 thời tái canh đông thời tái canh đông thời canh lai đông
4 duy khủng tuyết xâm bệnh cốt duy khủng tuyết khi bệnh cốt
6 ngã dữ tử đẳng ngã dữ tử
46a 4 tư huống toàn vô tư huống toàn vô tư... toàn vô
46b 5 thủy thổ thực ngôn chi thủy dĩ thực ngôn chi
7 an hữu tính thị hữu tính thị
7 nhược bỉ sở ngôn như bỉ sở ngôn
47a 3 Thạch gia nương tử Thạch Thị nương tử
4 Mai Thị, Dương Thị Dương Thị, Mai Thị
5 ư thị sinh đại cảm ngộ sinh đại cảm ngộ
6 đối hoa miên giã đối hoa miên
8 tự vi văn tế chi vi văn tế chi
9 phụ thiên nhiên chi tư thượng thiên nhiên chi tư
47b 1 sỉ vi thời thế chi trang sỉ vi thời thế chi trang sỉ vi thời nữ chi trang
3 anh hoa anh hoa oanh hoa
48a 2-3 diểu diểu hề mai hương uất uất hề mai hương
9 lai cử hề ngô thương lai hưởng hề tử thương
9 Ô hô ai tai thượng hưởng Ô hô ai tai
48b 6-7 ư chính đại ư chính nhân ư chính nhân

Các trường hợp không giống nhau trên đây, khi là từ đồng nghĩa (như là 36a/8; 39b/1; 46b/7); khi thì là từ khác nghĩa (như 36a/5; 39a/1; 44a/4); cũng có khi là chữ thừa (38b/3, 38b/8); chữ thiếu (36a/7; 39b/8); hoặc chữ nghịch đảo (40a/6; 43b/2; 47a/4). Dùng hý hiệu Û chỉ từ đồng nghĩa; ký hiệu “ ¹” chỉ từ khác nghĩa; ký hiệu “+” chỉ chữ bản đồ này có mà bản kia có: ký hiệu “–” chỉ chữ bản này không có mà bản kia có; kí hiệu “~” chỉ chữ nghịch đảo, ta có bảng tổng hợp sau đây về tình hình khác nhau của Bản B, Bản C so với Bản A, qua 20 truyện trong TKML:

Quyển số Truyện số Bản B Bản C
= ¹ + ~ = ¹ + ~


I
1
2
3
4
5
9
9
4
7
4
6
16
8
8
20
7
5
5
4
3
12
8
10
12
13
1
6
4
4
3
1
1
4
5
1
2
15

1

1


II
1
2
3
4
5
7
9
8
3
1
8
13
12
9
2
7
1
4
11
7
7
5
8
8
14
5
3
3
1
1
1
1
1
9
4

6
2
1
1
1
2
1
1



1


III
1
2
3
4
5

7
4
2
4
14
11
23
11
2
7
5
4
5
3
15
9
18
13
5
1
2
3
2
10
4
4
5




1


IV
1
2
3
4
5
3
3
2
4
2
12
13
10
18
11
3
1

5
4
16
15
6
9
5
2
5
1
2
3

1


6
7
10
5
9




2
1
1
Cộng... 88 229 90 211 55 6 110 11 4

Qua bảng tổng hợp trên, ta thấy: Bản A khác với Bản B tất cả 88+229+90+211+55 = 673 chỗ, trong đó trường hợp dùng chữ khác nghĩa (229) và trường hợp dùng thêm từ (211) chiếm tỷ lệ cao nhất. Bản A khác với Bản C tất cả 6+110+11+4+1 = 131 chỗ, trong đó trường hợp dùng chữ khác nghĩa (110) chiếm tỷ lệ cao nhất. Điều này nói lên mặt độc đáo và giá trị nghiên cứu của phẩn chính văn Cựu Biên TKML.
Nếu như bản in năm Cảnh Hưng hai mươi tư và ba mươi lăm, tức bản in của Thư phường Liễu Chàng hay Tân biên TKML là một chỗ dựa khá tốt để tìm hiểu bản dịch Nguyễn Thế Nghi, thì bản in năm Vĩnh Thịnh tam, tức bản in của Thư phương Hồng Lục lại có tầm quan trọng riêng đối với việc nghiên cứu Cựu biên TKML của Nguyễn Dữ.
CHÚ THÍCH
(1) Xem Đông Dương văn khố An Nam bản mục lục, in kèm theo sau bản thư mục Triều Tiên Đông Dương văn khố Triều Tiên bản phân loại mục lục, xuất bản tại Nhatạ năm Chiêu Hoà XIV (tức năm 1939), mục “Truyền kỳ mạn lục”
(2) Xem ảnh chụp số 1, trang
(3) Xem ảnh chụp số 2, trang
(4) Trong nước hiện có hai loại bản in TKML: Tân biên Truyền kỳ mạn lục tăng bổ giải âm tập chú in năm Cảnh Hưng 24 (1763), và Tân biên Truyền kỳ mạn lục tăng bổ giải âm tập chú in năm Cảnh hưng 35 (1774).
(5) Xem ảnh chụp số 3, trang
(6) Những chữ trong 2 ngoặc vuông [] là do chúng tôi thêm vào cho rõ nghĩa.
(7) Hồng châu: sau là phủ Bình Giang, Hải Dương (theo Nhất thống chí), nay thuọc tỉnh Hải Hưng.
(8) Những chữ trong ngoặc đơn () là cước chú vốn có trong văn bản.
(9) Hương tiến: tức Cử nhân.
(10) Chỗ này, nguyên văn chữ Hán chép “túc bất thành thị” (chân chẳng thành thị), thiếu một động từ. Động từ thiếu đó theo các bản Tân biên TKML, là “đạp”, tức đặt chân tới. Chúng tôi tạm thêm chữ “đạp” vào câu trân và dịch là “bén mảng” cho dễ hiểu.
(11) Đây chỉ Mạc Phúc Nguyên. Vĩnh Định sơ niên là năm 1547.
(12) Xem Nguyễn Thượng thư thì khâu thành chương (Công dư tiệp ký hâu biên; Danh thần, Phụ danh nho danh thần; sách của thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu A. 44, các tờ 34b và 35a, 35b).
(13) Loại in năm Cảnh Hưng 24 (1763): A. 176. 1-2..., loại in năm Cảnh Hưng 35 (1774): VHv. 1491...; Sách của Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
(14) (15) Sở dĩ “cơ bản”, chứ không phải “toàn bộ”, vì vẫn có vài chỗ dùng chữ khác nhau, giữa bài tựa trong bản in 1712 với các bài tựa in năm Cảnh Hưng. Thí dụ trong bài tựa 1712, ta thấy in sót chữ “đạp” trong câu “túc bất đạp thành thị”, Câu “Hữu cảnh giới giả, hữu quy châm giả, kỳ quan ư thế giáo khí tiêu bổ vân”, ở các bản in năm Cảnh Hưng, chữ “giả” thứ hai đổi thành chữ “yên”, và sau chữ “kỳ” có thêm chữ “hữu”. nhưng ngoài các trường hợp đó, phần còn lại của bài tựa, từ chữ “thời” trở lên, đều nhất trí với nhau.

TB

BÚT TÍCH CHA CON NGÔ THÌ SĨ
NGÔ THÌ NHẬM TRÊN NÚI DỤC THÚY
Núi Dục Thuý nằm ở phía tây Bắc thị xã Ninh Bình (Hà Nam Ninh), sát đường quốc lộ 1, cạnh dòng sông đáy nên thơ. Đây là một danh thắng nổi tiếng của đất Trường Yên cũ, còn lưu lại nhiều bút tích của các danh nhân đất nước, từ vua chúa, công khanh, đến tao nhân, mặc khách các đời.
Từ phía thị xã Ninh Bình ra theo đường bộ dừng lại dưới chân núi, khách sẽ nhìn ngay thấy 4 chữ Vũ trụ dĩ lai khắc nổi, rất rõ nét. So với các bút tích để lại quanh đây, 4 chữ này có kích thước lớn nhất: 22cmx 30cm. Trèo qua những mộ đá nhấp nhô, vạch đám dây leo chằng chịt, đi đến gần ma nhai đó, chúng ta sẽ thấy mấy hàng chữ nhỏ đề bên cạnh. Đó là bút tích Ngô Thì Sỹ và người con cả của ông là Ngô Thì Nhậm.
Năm 1770, trên đường vào Nghệ An nhậm chức Tham Chính, Ngô Thì Sỹ đã lên thăm núi Dục Thuý và cho khắc 4 chữ Vũ trụ dĩ lai này lên vách núi. 13 năm sau, năm Cảnh Hưng Nhân Dần (1782). Ngô Thì Nhậm nhân có việc công qua đây, thấy chữ khắc của cha bị rêu phong nhiều, đã cho khắc lại và đề một bài thơ bên cạnh. Đáng chú ý là bên dưới bút tích của Ngô Thì Nhậm, có khắc cả dấu triện. Loại bia có khắc dấu triện này hiện nay rất hiếm.
Nguyên văn bia ma nhai phiên âm như sau:
- Vũ trụ dĩ lai, Cảnh Hưng, Canh Dần, xuân, Thanh Oai Hoàng giáp Ngô Thì Sĩ đề”
- “Việt thập tam niên, Nhâm Dần, trưởng nam Thì Nhậm phụng lãnh cung sự. Tam niên, tiên thân hạc giá đăng vân, biểu lưu để di tích, thạch triển đài phong, toại trùng khắc yên, Cung ký cảm hoài nhất luật: Đạo đức văn chương hoàn tạo hoá, Yên ba phong nguyệt tại giang san. Đạt danh thắng cảnh trường như thử, Phụ tử chí tình thiên địa gian”
Chúng tôi tạm dịch như sau:
- (Núi Dục Thuý) từ khi có vũ trụ đến nay.
Hoàng giáp Ngô Thì Sĩ, Người Thanh Oai đề vào mùa xuân, năm Cảnh Hưng, Canh Dần.
- Trải qua 13 năm, đến năm Nhâm Dần, con trai cả là Thì Nhậm vâng mệnh việc công (qua đây). Ba năm trước, tiên thân cưỡi hạc lên mây, đã để lại bút tích. (Chữ khắc vào) đá nông, (lại bị) rêu phong, bèn khắc lại. Kính ghi một bài cảm hoài:
Đạo đức văn chương trả về cho tạo hoá,
Gió trăng khói sóng ở lại với non sông.
Tên tuổi (của cha) và thắng cảnh mãi mãi như thế.
Tình cảm thắm thiết của cha con (ta) còn mãi giữa đất trời.
Thông thường các tầng lớp nho sỹ trước kia hay nói tới “nhân nghĩa” đến “sửa mình trị nước”, ít khi vươn tầm nhìn ra vũ trụ bao la... ở đây 4 chữ vũ trụ dĩ lai Ngô Thì Sĩ như muốn khẳng định sự trường tồn của vũ trụ trong thế vận động của nó, thể hiện một tâm hồn phóng khoáng, một cách nhìn lạc quan, một sự vươn lên trong nhận thức về thiên nhiên và vũ trụ.
Phát triển tư tưởng trên, trong bài thơ của mình. Ngô Thì Nhậm đi tới khẳng định sự tồn tại của con người và sự nghiệp con người gắn liền với non sông, đất nước. Theo nhà thơ, con người dù mất đi nhưng toàn bộ phẩm chất đạo đức của họ, sự nghiệp sáng tạo của họ vẫn còn lại mãi mãi với đất trời, gắn liền hoà chung cùng vũ trụ.
Phải chăng đó chính là cơ sở tư tưởng cho những hoạt động tích cực, năng động trong sự nghiệp chính trị, quân sự, ngoại giao, cũng như sự nghiệp văn chương của Ngô Thì Nhậm? Có phải chính cái nhìn có tính chất biện chứng trên đây đã khiến Ngô Thì Nhậm mau chóng rũ bỏ được gánh nặng “cô trung” lỗi thời đối với nhà Lê mà không ít trí thức thời ông thường mắc phải để đến với phong trào Tây Sơn cùng người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ và làm nên sự nghiệp bất hủ “trường tồn với vũ trụ”?

TB

QUẦN BIA ĐỒI VẢI
Khu đồi Vải rộng khoảng 30ha, nằm trên một cao nguyên đất đai màu mỡ giữa vùng núi non trùng điệp cách thị xã Tam Điệp 7km về phía đông nam.
Gần đây, nhân dân trong vùng đã phát hiện nhiều phiến đá có khắc chữ, nhô lên mặt đất khu đồi này. Có tấm chỉ khắc hai chữ như “Ngọc tỉnh”, “Long tỉnh. . . ” đáng chú ý là tấm bia ghi hai bài thơ của Ninh Hy Tăng (Ninh Ngạn) do con trai của ông là Đông các Đại học sỹ Ninh Tốn khắc năm Tân Sửu (1781).
Nhờ bài thơ mà chúng ta được biết đồi vải xưa có tên là bãi Vũ Vu (Vũ Vu nguyên), nơi Hy Tăng ở ẩn và viết hai tác phẩm là Phong vịnh tập Vũ Vu thiên thuyết. Bãi Vũ Vu, tương truyền còn là nơi Tiến Sỹ Ninh Tốn cất dấu kho vàng bạc châu báu của vua Lê trước khi vua Tây Sơn tiến ra Bắc. Phía bên phải hồ mùa thu gần đó, có vùng đất gọi là “Trại cụ Thượng”, nơi tiến sỹ Ninh Tốn ở ẩn, giữ lòng “cố trung” với nhà Lê, trước khi đi đến với phong trào khởi nghĩa Tây Sơn.
Dưới đây là phần phiên âm và dịch lời cùng nguyên văn hai bài thơ đó.
Phiên âm:
Viện xứ cổ hiệu Vũ Vu nguyên. Cảnh Hưng trung, Cối Trì, Cán thôn Thị độc Hy Tăng tiên sinh ẩn cư nguyên thượng xướng minh lý học, dĩ đại hiền tự kỳ sở trước thư, hữu Vũ Vu thiển thuyết, cập Phong vịnh tập. Tân Sửu mộ xuân, kế thế đích nam Đông các đại học sĩ Ninh Tốn nhân tức sở cư lập miếu. Nhi bức khắc kỳ nhị thi vu thạch.
Kỳ nhất
Ngã ái Vũ Vu thú.
Xuất du thừa kiên xa.
Quần sơn tu cực hảo,
Vạn thụ hiến tân hoa.
Tâm hạ sinh phật ấn,
Nhãn trung kiến Thái Hoà.
Vũ tễ tuyền do sắt.
Phong cao thử bất ba;
Toạ đối thạch sơn ngữ,
Ngoạ thính sơn điểu ca.
Thần di tâm diệc khoáng,
Phú quý như ngã hà?

Vũ Vu Nguyên
Tạm dịch:
Chốn này xưa là bãi Vũ Vu(1). Trong năm Cảnh Hưng, Thị độc Hy Tăng tiên sinh, người thôn Cán, xã Côi Trì, ẩn ở trên bãi, nghiên cứu rõ môn lý học, noi theo bậc hiền triết, từ chốn này viết sách Vũ Vu thiển thuyết Phong Vịnh tập. Cuối mùa xuân năm Tân Sửu (1781), con trai nối dõi là Đông Các đại học sỹ Ninh Tốn, nhân chỗ ở cũ, dựng nhà thờ và khắc ngay vào đá hai bài thơ của Người.
Bài một
Ta yêu cảnh Vũ Vu,
Trên cáng đi ngao du.
Cây biếc rừng hoa mới,
Núi khoe mầu đẹp xưa.
Dấu Phật trong lòng?
Thái hoà trược mặt phô.
Gió cao đồng lặng sóng,
Mưa tạnh uốn gieo đàn.
Ngồi ngắm đá núi nói,
Nằm nghe chim rừng ca.
Thảnh thơi lòng rộng mở,
Giàu sang hơn gì ta.
Bùi Vũ Vu.
Phiên âm:
Kì nhị
Vũ Vu hà hữu?
Hữu tuyền hữu sơn.
Tuyền viết Long Tỉnh.
Sơn viết Kê Quan.
Hữu viết Lả Mát,
Hữu viết Thiên Quan.
Viết tư, viết Cầu
Thổ sơn hồi hoàn.
U kỳ thắng trí.
Khả thích du quan.
Hy tăng cư sĩ,
Vu thử bàn hoàn,
Đắc tâm ưng mục
Đàn bất lương nan.
Diện đối tiên phong hề, vô thướng ngôn chi lạc.
Tràng trung khúc thuỷ hề, hữu nhất thổ chi hoan
Kinh cứu vị khử hề tiễn kinh cức;
Chi lan chính mậu hề chủng chi lan.
Hứng lai sách cú,
Thời chí vấn san,
Trần hiếu bất năng mỗi,
Danh lợi bất tương can.

Vũ Vu cư sĩ Ninh Hy Tăng lãng ngâm(2)
Tạm dịch:
Bài hai
Vũ Vu có gì?
Có suối có non.
Suối tên Long Tỉnh,
Non tên Kê Quan
Có khe lá mát,
Có đền Thiên Quan,
Hòn cầu, hòn Cốc
đồi đất quây quần.
Vẻ thanh dáng đẹp
Tha hồ du quan.
Hy tăng cư sĩ,
Vấn vương bàn hoàn,
Thoả lòng ưng mắt,
Nốy bao cung đàn.
Trước mắt ngắm non tiên mộng dân lời tắt hẳn,
Trong lòng nghe suối cuộn, riêng một cõi vui tràn,
Gai góc chưa sạch chừ, chặt phăng gai góc;
Chi lan đang tốt chừ, trồng thêm chi lan.
Hứng lên ngâm vịnh,
Đến bữa tìm ăn.
Bụi bặm xa chẳng vướng,
Danh lợi mặc không bàn.
Vũ Vu cư sĩ Ninh Hy Tăng ngâm vịnh.
CHÚ THÍCH
(1) Dục hồ nghi, phong hồ Vũ Vu, vịnh nhi quy, Phu Tử khoái nhiên viết: Ngô dữ Điểm dã (Lỗ luận).
(2) Lỗ luận: Tắm ở sông Nghi, hóng mát trên đàn Vũ Vu, ngâm vịnh mà trở về. Phu Tử than rằng: Ta tán thành Tăng Điểm.

TB

THƠ VĂN NINH TỐN
Cuốn sách là một công trình tập thể biên dịch thơ văn chữ Hán ra tiếng việt, do Hoàng Lê chủ biên. Với độ dày vừa phải 235 trang, in khổ 13x19, sách gồm 2 phần. Phần thứ nhất: Mấy nét tiểu sử Ninh Tốn, Văn bản thơ văn Ninh Tốn và Thơ văn Ninh Tốn . Phần thứ hai: Tuyển chọn biên dịch, tác phẩm. Đây là công trình biên dịch thứ tư sau cuốn thơ văn Ngô Thì Nhậm, Phan Huy ích, Đoàn Nguyễn Tuấn. Những sách này nằm trong kế hoạch của Viện Nghiên cứu Hán Nôm là từng bước khai thác và công bố những tác phẩm ưu tú của các tác giả đã đi theo ngọn cờ khởi nghĩa Tây Sơn.
Phần thứ nhất: do Hoàng Lê viết. Tuy với số trang không nhiều (từ trang 7 đến trang 37), bạn đọc có thể tìm thấy ở phần này những tư liệu đáng tin cậy, do nguồn tư liệu sưu tầm được qua các lần đi thực tế ở các địa phương cũng như ở chính quê hương tác giả và sau nhiều năm tìm kiếm khá công phu qua sách vở lưu trữ ở các thư viện trung ương (Hà Nội) các tỉnh và các thành phố khác. Về tiểu sử Ninh Tốn và thơ văn của ông, tuy giới thiệu có chỗ còn sơ lược như năm mất của ông chưa được khẳng định cụ thể mà mới dừng ở mức độ phỏng đoán ông mất trong khoảng năm 1794 - 1802, nhưng cũng giúp chúng ta hiểu được khá cặn kẽ quê hương của ông - xã Côi Trì, huyện Yên Mô, Tỉnh Ninh Bình (nay là Yên Mỹ huyện Tam Điệp, tỉnh Hà Nam Ninh), Ngoài ra chúng ta còn hiểu được thân thế và sự nghiệp của nhà thơ, từ khi còn trai trẻ, lập chí học hành, thi cử, với hoài bão “Làm trai phải là chàng trai tốt” để giúp ích cho đời và những lúc thăng trầm của cuộc đời, khi ông làm quan, đến chức Tham tán quân vụ dưới triều Lê Trịnh, cũng như lúc chán ngán cảnh làm quan ông bỏ chạy trốn vào nhân dân để quyết định tìm đến và đi theo phong trào Tây Sơn. Đó là bước ngoặt đánh dấu sự chuyển biến lớn lao trong quá trình nhận thức của ông đối với cuộc chiến đấu chống giặc ngoại xâm giải phóng tổ quốc do Nguyễn Huệ đứng đầu. Từ đó ông đã trở thành nhà thơ yêu nước tiến bộ.
Phần thứ hai: Tuyển chọn và biên dịch tác phẩm là phần trọng tâm của cuốn sách. Phần này tuyển chọn 106 bài thơ, hai bài văn do một tập thể các dịch giả quen biết, có tiếng như: Nguyễn Đổng Chi, Khương Hữu Dụng, Đào Phương Bình, Đỗ Văn Hỷ, Hoàng Lê, Nguyễn Hữu Chế, Lâm Giang, Trần Thị Băng Thanh... đảm nhiệm dịch thuật. Nhìn chung các bài thơ, văn đã được phiên âm đúng, dịch nghĩa sát nguyên tác, phần dịch ra thơ Tiếng Việt có nhiều bài dịch hay. Đó là một đóng góp quý của các dịch giả và nhóm biên soạn. Việc tuyển chọn rất có thể còn bỏ sót nhiều chỗ, nhiều bài, nhưng tập thơ đã giúp chúng ta tìm hiểu chọn vẹn con người họ Ninh và dễ dàng cảm nhận hồn thơ của ông - một nhà thơ mà ngay từ tấm bé đã được đào luyện “Cửa Khổng sân Trình”, nhưng trong thơ, ông đã vượt ra ngoài cái khuôn khổ ấy. Ông ca ngợi vua Quang Trung, ca ngợi phong trào Tây Sơn và ca ngợi cảnh đẹp của quê hương đất nước là điều rất quý ở tầng lớp trí thức bấy giờ. Nhưng ông còn dám hoà mình với quần chúng, thông cảm với nỗi buồn vui của người lao động nghèo khổ, dám đứng lên bênh vực, ngợi ca người phụ nữ và những thân phận con người bị xã hội hắt hủi, vùi dập. Có được bản lĩnh ấy, trong điều kiện hoàn cảnh xã hội ở thời đại ông không phải nhà nho sĩ thi sĩ nào cũng có được. Đó là những nét đặc sắc, tiêu biểu được phản ánh trong thơ văn ông, thông qua một bút pháp điêu luyện. Đúng như các bạn ông đã từng nhận xét: “Ông là kẻ lão luyện trong văn mặc, sở trường cả thơ phú, trước thuật - tr.19”
Đọc thơ văn Ninh Tốn, chúng ta còn thấy có những bài thơ như bài Cẩm cơ hí tác (tr.54) đọc lên nghe âm điệu rất gần gũi với thơ lãng mạn hiện đại vào những năm 40 của thế kỷ 20. Nếu quả thật như vậy, thì theo cách nói của Bùi Huy Bích “ông là một con người tài tử” (tr.19) là một nhận xét đúng, phản ánh những nét rất riêng, độc đáo của con người và thơ văn của ông - ông là một tác gia xứng đáng được liệt vào hàng danh nhân đất nước.
“Thơ văn Ninh Tốn” là một công trình biên dịch có chất lượng, là một cống hiến đối với khoa học và đối với những bạn đọc say mê yêu thích văn học cổ của dân tộc. Rất tiếc cuốn sách còn một vài lầm lỗi ở khâu ấn loát, cần được bổ sung rút kinh nghiệm.

TB

TƯỞNG NHỚ NHÀ HÁN HỌC LÊ THƯỚC (1891 - 1975)
Vừa qua, tại Hà Nội, giới văn hoá và văn học đã tổ chức kỷ niệm 10 năm ngày mất của nhà giáo, nhà hoạt động văn hoá nhiệt thành Lê Thước. ông Nguyễn Xiển, Phó chủ tịch Quốc hội. Giáo sư Tiến sỹ Phạm Huy Thông, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam; giáo sư Trần Nghĩa, Quyền Viện trưởng Viện nghiên cứu Hán Nôm; nhiều cán bộ lãnh đạo và cán bộ nghiên cứu của Viện Văn học, Viện Sử học, Vụ bảo tồn bảo tàng, Viện bảo tàng lịch sử, Viện bảo tàng cách mạng, khoa Sử Trường Đại học Tổng hợp... đã về dự.
Nhà giáo, nhà thơ Vũ Đình Liên và giáo sư Trương Chính trong Nhóm văn học Lê Quý Đôn là những người cộng tác với cụ Lê Thước suốt 20 năm cuối đời cụ (1955_ 1975), đã nhắc lại tiểu sử và những đóng góp của cụ đối với nền văn hóa dân tộc, đối với cách mạng trong gần ba phần tư thế kỷ qua.
Cụ Lê Thước sinh năm 1891 ở huyện Đức Thọ, tỉnh Nghệ Tĩnh trong một gia đình nhà Nho thanh bạch. Năm 1918 cụ dự khoa thi Hương cuối cùng trong lịch sử và đỗ đầu khoa này. Tiếp đó, cụ đi theo con đường “Tân học” và đã tốt nghiệp trường Cao Đẳng Sư Phạm Hà Nội năm 1921 với một luận án xuất sắc bàn về việc học chữ Hán trong nhà trường. Trong thời gian dạy học, cụ tham gia các hoạt động yêu nước như phong trào đòi thả cụ Phan Bội Châu, truy điệu Phan Chu Trinh, thành lập Đảng Tân Việt...Do những hoạt động này, cụ bị bọn thực dân Pháp theo dõi, bị đổi đi hết Hà Nội, Lạng Sơn lại Thanh Hóa, và tháng 5 năm 1943 thì cụ bị cắt chức và buộc về hưu non.
Sau Cách mạng tháng 8, cụ được làm Chủ tịch Uỷ ban Tăng gia sản xuất tỉnh Thanh Hoá. Năm 1951 cụ được bầu vào ban Chấp hành mặt trận Liên Việt toàn quốc. Hoà bình lập lại, cụ ra công tác tại Ban Tu thư bộ giáo dục rồi Vụ Bảo tồn bảo tàng... năm 1962, cụ cùng với Đặng Xuân Thiều, cụ Trần Huy Bá và Hoà Thượng Thích Thanh Tốn phát hiện pho tượng Quang Trung và tấm bia lịch sử ở chùa Bộc. Năm 1963, cụ được về hưu trí theo nguyện vọng của mình. Nhưng cù vẫn viết sách, viết báo, và tham gia các hoạt động văn hóa, văn học cho đến khi mất (ngày1 tháng 10 năm 1975).
Nhà Hán họ Lê Thước thuộc số những người đi hàng đầu trong lĩnh vực Hán _ Nôm. Những năm trước Cách mạng cụ luôn quan tâm bảo vệ nền văn hóa dân tộc trước nguy cơ “Đồng hoá” của bọn thực dân. Cụ đã dồn cả tâm huyết, nghị lực và trí tuệ của mình để nghiên cứu và giới thiệu các tác phẩm chữ Hán, chữ Nôm của những danh nhân, chính khách lớn của dân tộc như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Trường Tộ.... ngay từ n hững năm 30, 40 của thế kỷ này. Sau cách mạng cụ lại càng có điều kiện đi sâu vào sự nghiệp cao quý ấy. Trong thời gian công tác tại ban Tu thư Bộ Giáo dục, cụ đã đóng góp nhiều ý kiến sâu sắc như coi thơ văn chữ Hán của người Việt Nam là một dòng văn học dân tộc, phụ trách nền văn học chữ Hán trong sách giáo khoa... Đặc biệt trong nhóm văn học Lê Quý Đôn, cụ là người phụ trách chính trong việc nghiên cứu, biên dịch bộ Hoàng Việt thi tuyển của Bùi Huy Bích, thơ văn của Nguyễn Thượng Hiền và thơ chữ Hán của Nguyễn Du...
Sinh thời, có lần cụ Lê Thước và cụ Võ Liêm Sơn đàm đạo với nhau về Tryện Kiều nào. cụ Lê Thước đã chọn câu:
Con tằm đến thác vẫn còn vương tơ
Gắn bó với sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp văn hoá của Đảng bằng những sợi tơ vàng bền chặt, nhà giáo, nhà trí thức yêu nước Lê Thước đã “nhả tơ vàng” cho đời đến phút cuối của đời mình. Và ngày nay, sợi tơ vàng bền chặt ấy vẫn còn gắn bó chúng ta trong sự nghiệp bảo vệ và khai thác di sản văn hoá dân tộc.

TB

VÀI NÉT VỀ HOẠT ĐỘNG HÁN NÔM
TẠI PHÁP
Việc nghiên cứu các mặt thuộc ngành khoa học xã hội như lịch sử học, kim thạch học, khảo cổ học và các thể chế tôn giáo, phong tục, ngôn ngữ.... của các nước Viễn đông, trong đó có các nước Đông Dương vẫn không ngừng được tiến hành tại các trường đại học và các trung tâm nghiên cứu nhiều mặt của một nền văn minh cổ xưa được thực hiện tại nhiều cơ sở. Riêng chuyên ngành Hán Nôm, một ngành tương đối khó, nhưng còn có nhiều thành tựu đang được quan tâm.
Trước hết, việc tổ chức giảng dạy cho những người đăng ký theo học Hán Nôm được thực hiện tại khoa Tiếng Việt trường đại học Paris 7 (Université de Paris 7, U.E.R de langues et Civilisation de l’-Asie orientale section d’etudes vietnamiennes). Khoa giành cho môn này một tuần hai giờ vào đào tạo cho người theo học hết trình độ maitrise(1). Người có trình độ này muốn đi sâu nghiên cứu một chuyên đề nào đó thuộc lĩnh vực Hán Nôm hoặc muốn có bằng cấp cao hơn thì có thể đăng ký theo học với một giáo sư chuyên về lĩnh vực này tại phân hiệu 4 trường Cao học thực hành tại Sorbonne (Ecole Pratique de hautes études4è section Sorbonne). Những năm trước đây, người theo học có thể thực hành được điểm này, nhưng hiện nay, nhà trường có rất ít những người chuyên nghiên cứu và giảng dạy Hán Nôm. Nhà trường đã giành cho mộn học này mỗi tháng 4 giờ, người phụ trách chính là cụ Nguyễn Trần Huân, hiện nay đã nghỉ hưu. Lớp học đặt tại số nhà 22 Avenue du Président Wilson .
Ngôi nhà số 22 Avenue du Président Wilson là trụ sở làm việc chung của Viện Nghiên cứu Trung Quốc, Viện Nghiên cứu ấn Độ, trường Viễn Đông Pháp, Trung tâm nghiên cứu lịch sử và nền văn minh của bán đảo Đông Dương . Nơi đây có thư viện của trường Viễn Đông, thư viện của Hiệp hội châu á, Với một phòng đọc rộng lớn, đầy đủ sách công cụ để tra cứu bằng các thứ tiếng Trung Quốc, ấn Độ, Nhật Bản, Triều Tiên. Phần lớn số sách Hán Nôm của thư viện Hiệp hội châu á rất phong phú có khoảng 154 tên sách, mang kí hiệu HM đang phục vụ bạn đọc. Đây là sách in ván gỗ hoặc sách chép tay do Maspéro và Chavannes sưu tập. Ngoài ra con một số sách mang ký hiệu A. Số sách này chưa phục vụ bạn đọc. Ô sách của Trường Viễn đông Pháp chủ yếu do ông Durat sưu tầm và có một số sách nhà trường mua đựơc từ trước năm 1958.Số sách này đang được lên ký hiệu để phục vụ bạn đọc trong và ngoài nước.Các tư liệu và sách vở Hán Nôm còn được lưu trữ tản mác ổ nhiều nơi. Đặc biệt mảng tư liệu về địa lý bao gồm các bản đồ được in hoặc chép tay rất cũ do Gallierri sưu tầp, hiện tại để thư viện của Hội nghiên cứu địa lý tại Paris (Bibliothèque de la Société de Géographie de Paris). Tại đây người ta có thể tìm danh mục những bản đồ cũ có liên quan đến Việt Nam tại các ô phiếu của Trung Quốc và ấn Độ(2).
Về lĩnh vực nghiên cứu, nhiều năm qua các thành tựu đã được công bố trên các tạp trí, tập san, đặc san của các cơ sở có bộ phận nghiên cứu về Hán Nôm như Đại học Paris 7 (Université de Paris 7, Section d’etudec vietnamiennes), Trường Viễn đông Pháp Ecole’ francaise d’Extrême Orient), Trung tâm nghiên cứu về lịch sử và văn minh của bán đảo Đông Dương (Centre d’his-toire et civilisation de la Péninsule indochinoise). Đại học Nice (U’niversité de Nice). Trung tâm tư liệu nghiên cứu về Đông Nam á (Centre de documentation et de recherches sur l’Asie du Sud-Est). Việc công bố trước hết là giới thiệu các công trình dịch thuật các tác phẩm Hán Nôm ra tiếng Pháp để giới thiệu cùng độc giả thế giới như Truyện Kiều của Nguyễn Du, Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, truyện Phan Trần, Thơ Hồ Xuân Hương, Ký sự lên kinh của Hải Thượng Lãn Ông... các chuyên đề nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các tác phẩm, tác giả lớn của thời đại trước vấn đề chữ Nôm. Một điểm đáng chú ý là hiện nay nhiều học giả pháp đã để tâm nghiên cứu mối giao lưu văn hiến của vùng Viễn Đông mà mảng tư liệu Hán Nôm là một trong những đối tượng nghiên cứu quan trọng của họ. Trong lĩnh vực nghiên cứu Hán Nôm tại Pháp, chúng tôi kể đến các công trình nghiên cứu của giáo sư Hoàng Xuân Hãn. Ngoài công trình đã xuất bản, các bài nghiên cứu đã đăng trên các báo Thanh Nghị, báo Dư luận, báo Sứ địa từ năm 1975 trước, những năm gần đây giáo sư còn có nhiều công trình nghiên cứu đăng trên tập san nghiên cứu của Hội Khoa học Xã hội Việt Nam tại Pháp, như:
- Thực trạng xã hội thời Gia Long qua một vài tư liệu sử học. Công bố năm 1976.
- Lễ Vu Lan với văn tế cô hồn (tạp chí Văn học, năm 1977).
- Cuộc tiếp sứ Thanh năm 1688 (tập san Khoa học xã hội , Số 1977 và 1978).
- Văn Nôm và chữ Nôm thời Trần - Lê - Phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử (số 12/1978. 12/1979, 10/1980).
- Lời thề Lũng Nhai (số / năm 1980)
- Lịch và lịch Việt Nam (số 2/1982).
Hiện nay, mặc dù tuổi đã cao, giáo sư vẫn miệt mài với công việc nghiên cứu của mình, tiếp tục giới thiệu những giá trị nền văn hiến cổ Việt Nam với độc giả thế giới.
Ngoài ra, các hoạt động trao đổi khoa học và hợp tác nghiên cứu cũng có những nét đáng lưu ý. Các cơ sở vừa nêu trên thường mời các nhà nghiên cứu các nước, trong đó có Việt Nam đến báo cáo những thành tựu nghiên cứu trong lĩnh vực này. Các nhà nghiên cứu đã tham gia trao đổi sung quanh các vấn đề xác định niên đại một tác phẩm. Cấu tạo chữ Nôm, chữ Hán của người Việt Nam...sự hợp tác nghiên cứu đã bắt đầu được thực hiện giữa những cơ sở có bộ phận nghiên cứu Hán Nôm tại Pháp với Viện Nghiên cứu Hán Nôm của Việt Nam, như công trình Quốc âm thi tập Trường Đại học Nice (U’niversité de Nice) hợp tác với Viện Nghiên cứu Hán Nôm; Thư mục Hán Nôm trường Viễn Đông Pháp (école francaise d’ Extrême - Orient), hợp tác với Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Tuy nhiên đây mới chỉ là bước đầu, một số công trình khác sẽ được bàn bạc trao đổi sự hợp tác để thực hiện trong những năm tới.

TB

HỘI THẢO VỀ TỪ ĐIỂN CHỮ NÔM
Ngày 3 tháng 4 năm 1985. Viện Nghiên cứu Hán Nôm đã tổ chức một cuộc hội thảo về biên soạn cuốn từ điển chữ Nôm. Đây là công trình do Viện Nghiên cứu Hán Nôm chủ trương biên soạn để phục vụ cho việc đọc những văn bản Nôm trong kho di sản văn hóa dân tộc cũng như cho việc giảng dạy và học tập chữ Nôm.
Nhiều giáo sư và nhà nghiên cứu về Nôm, về Ngữ văn của Viện Văn học, Viện Ngôn ngữ học, những người làm công tác nghiên cứu và giảng dạy Hán Nôm của trường đại học Tổng Hợp và Đại học sư phạm ở Hà Nội và một số chuyên gia nghiên cứu Hán Nôm đã hưu trí như các cụ Phùng uông, Lê Tư Lành, Vũ Tuấn sán,... đã tham dự hội thảo.
Hội thảo do Giáo sư Trần Nghĩa. Quyền Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm điểu khiển. Đồng chí Cao Hữu Lạng, Chủ biên cuốn Từ điển chữ Nôm, đã biên sọan và danh sách 50 văn bản Nôm được chọn làm cứ liệu cho việc biên soạn.
Như ý kiến trong cuộc hội thảo cho rằng, những bộ từ điển có chữ Nôm và chữ Hán trước đây như Từ điển An Nam_ La tinh của ????????.soạn năm 1772 (chép tay) >???????? Đại Nam quốc âm tự vị cảu Huỳnh Tịnh .? của Sài Gòn 1895 đã có những đóng góp nhất định cho việc nghiên cứu và học chữ Nôm. Nhưng mặt hạn chế của bộ từ điển ấy là ở chỗ các tác giả trên đã tiến hành việc biên soạn của mình trên cơ sở một bản khung có sẵn của tự mẫu La Tinh, những chữ Nôm được điền vào sau khi các từ điển đã hình thành, vì thế không thu nhặt được hết các chữ Nôm đặc biệt. Ngày nay muốn tra một số chữ Nôm ở các văn bản Nôm thế kỷ XIV, XX, thì những từ điển này không thoả mãn được, Đồng thời việc định nghĩa một số từ cổ của các từ điển trên, ở một vài chỗ không thích hợp với nghĩa trong văn cảnh cụ thể.
Rút kinh nghiệm các bộ từ điển vừa nói, đặc biệt là những từ điển chữ Nôm mới xuất bản gần đây như Từ điển chữ Nôm của Nguyễn Quang Xỉ, Vũ Văn Kính, Sài Gòn, 1971; bảng tra chữ Nôm Hà Nội 1976; từ điển chữ Nôm của Nguyễn Hữu Quỳ. Sài Gòn bản đánh máy...
Từ điển chữ Nôm biên soạn lần này, theo nhiều ý kiến ở cuộc hội thảo, phần cố gắng phản ánh những mã chữ Nôm 50 văn bản chọn lọc, Từng chữ sẽ được trình bày theo trình tự thời gian, qua đây phần nào thấy được duyên cách của Chữ Nôm đó. Từ điều được rút ra từ thực tế văn bản, và được giải thích theo ngữ cảnh, đồng thời có minh hoạ bằng văn cảnh cụ thể.
Hội nghị đã giành thời gian để thảo luận danh sách 50 văn bản Những văn bản này bao gồm được các thể loại văn học Nôm, bao gồm được các thời đại và các địa phương, có thể đủ đại biểu kho từ vựng tiếng Việt qua chữ Nôm. Cái khó là việc sử lý những từ cổ trên góc độ ngữ văn học. Qua đấy sẽ tìm lại đựơc những từ cổ đã mất, để làm giàu cho kho từ ngữ tiếng Việt cổ. Việc xác định những từ thuần Việt cổ và những từ Hán Việt cũng được nhiều ý kiến bàn bạc trao đổi.
Hội nghị cũng nêu lên yêu cầu đối với việc biên sọan Từ điển chữ Nôm, một công việc mang tính chất hồi cố, đoi hỏi phải nghiêm túc, thận trọng tỉ mỉ, chu đáo để thực hiện được trình độ khoa học của Hán Nôm hiện nay
PV

TB

TIN ĐÀO TẠO CÁN BỘ NGÀNH HÁN NÔM
Ngày 19 tháng 7 năm 1985, Bộ môn Hán Nôm thuộc khoa Ngữ văn trường Đại học Tổng Hợp Hà Nội đã tổ chức bảo vệ luân án tốt nghiệp cho sinh viên chuyên ngành Hán Nôm của trường. Sau 4 năm rưỡi học tập, các sinh viên này đã được trang bị những kiến thức cơ bản về văn học, Hán học và chữ Nôm cũng như phương pháp luận nghiên cứu Hán Nôm. Năm nay Tổ Hán Nôm của trường đại học đã hợp tác với các chuyên gia của Bộ Đại học, Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Trường đại học Sư Phạm I để hướng dẫn sinh viên làm luận văn tốt nghiệp. Trong số 8 luận văn, có tới 6 luận văn nghiên cứu về Nôm với những đề tài mang ý nghĩa thực tiễn như : Khảo sát dấu vết âm Việt cổ trong tác phẩm Quốc âm thi tập; trong Hồng Đức Quốc âm thi tập; trong Chỉ Nam Ngọc âm; hay Tìm hiểu chữ Nôm trên các văn bia huyện Từ Liêm Hà Nội... Hội đồng bảo vệ đã đánh giá các điểm từng luận văn và nhất trí nhận xét rằng lớp sinh viên tốt nghiệp năm nay có đủ phẩm chất tư tưởng và vốn tri thức cần thiết để tham gia công tác nghiên cứu và giảng dạy về chuyên ngành Hán Nôm.
D.T.

TB

TIN HỢP TÁC KHOA HỌC
Thực hiện chương trình hợp tác nghiên cứu khoa học đã được kí kết giữa Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam và trường Viễn Đông Pháp, và ?.///đại diện của trường đã sang công tác tại Việt Nam trong những ngày đầu tháng 9 -1985.
Trong hai ngày 9 và 10 , Viện Nghiên cứu Hán Nôm đã tiếp và làm việc với bà ???? . Hai bên đã thông báo cho nhau về tiến bộ thực hiện việc biên soạn bộ thư mục Hán Nôm, công trình hợp tác khoa học mà hai bên đã ký kết. Phía trường đã thông báo cho Viện biết nhóm biên tập thư mục sách Hán Nôm tại Paris đã bổ sung thêm 2 người, trong đó có ông Hoàng Xuân Hãn. Công việc biên soạn thư mục sách Hán Nôm tại Thư viện Trường Viễn Đông, Thư viện Hiệp hội Châu á, Thư viện Quốc gia Paris đã tiến hành theo đúng kế hoạch. Sách Hán Nôm ở các nơi khác, phía Trường dự định hoàn thành trong năm 1986.
Viện Nghiên cứu Hán Nôm cũng đã thông báo cho phía trường biết công việc của nhóm biên soạn thư mục của Viện tiến hành theo đúng kế hoạch . Công việc còn lại chủ yếu là hiệu đính các phiếu tư liệu đã làm và dịch một phần các tư liệu đã biên soạn ra tiếng Pháp. Tiếp đó hai bên đã bàn tới các cơ cấu bộ sách, bao gồm phần mở đầu, phần nội dung, phần sách dẫn và vấn đề in ấn để công bố.
Bà C Rageau cũng đã thông báo cho Viện biết một chủ đề mà nhà trường đang quan tâm và cũng đã được Uỷ ban Khoa Học xã hội Việt Nam đồng ý hợp tác, đó là việc biên soạn, khảo dị các tiểu thuyết cổ được viết bằng chữ Hán của các nước triều Tiên, Nhật bản, Việt Nam. Căn cứ vào các sách Hán Nôm tại Paris, nhà trường đã biên tập xong tập 1 và đưa in tại Hồng Công. Nhà trường mong muốn cùng Viện Nghiên cứu Hán Nôm xúc tiến việc hợp tác biên soạn công trình này càng sớm càng tốt. Viện đã nhất trí tham ra trong chừng mực có thể được. Công việc hợp tác giữa hai bên sẽ bắt đầu được thực hiện từ tập 2. Ngoài ra, hai bên cũng đã sơ bộ bàn tới các khả năng hợp tác trong việc biên soạn và in bộ Thư mục văn bia Việt Nam và cuốn Văn đài loại ngữ .
Viện Nghiên cứu Hán Nôm và Trường Viễn Đông Pháp nhận định rằng sự hợp tác khoa học giữa hai cơ sở bước đầu đã được thực hiện nghiêm túc. Hai bên đều mong muốn sự hợp tác khoa học giữa hai cơ sở ngày càng được phát triển, và mở rộng hơn nữa.

No comments:

Post a Comment