Sunday 7 November 2021

Tìm về quá khứ - Quê cũ năm xưa (Nguyễn Hữu Quyền - Di Cảo) - Kỳ 2

 

Những ai đã từng dùng đường thủy, đi tàu từ Hànội về Namđịnh, hay Hảiphòng về Namđịnh và ngược lại, hẳn còn nhớ khúc sông mà ngày xưa người ta gọi là Ngã Ba Tuần Vường.

          Những tàu chạy trên sông hồi ấy thường có mấy chiếc, một là tàu Bắc Kinh, một là Long Môn và một là Giang Môn, chuyên chở khách và hàng hóa đường Namđịnh-Hànội. Còn một cái nữa chạy đường Namđịnh-Hảiphòng, chỉ chuyên chở hàng hóa, có tên gọi là tàu “Guồng Hậu”. Gọi như vậy vì tàu này đằng sau lái có một bánh xe guồng lớn, gồm nhiều tấm mặt bằng quay dưới nước để đẩy tàu đi.

          Ngay từ lúc còn nhỏ, hồi 7-8 tuổi, tôi đã được nghe người lớn nói “Mười hai cửa bể, phải nể Tuần Vường”. Với suy nghĩ của tôi hồi đó, tôi đã hiểu rằng : Phải nể Tuần Vường, vì chỗ ấy gần cửa Tuần Vường, nơi có vạn chài ĐỨC THÔNG  ở thượng nguồn, cách đó chừng 2km, một vạn chài nổi tiếng ngỗ nghịch, thường hay tổ chức đánh cướp những thuyền buôn trên sông để lấy tiền ăn chơi. Có khi không gặp thuyền buôn, lại kéo lên những làng bên bờ để hành nghề. Bọn này rất tàn ác, đánh và giết người như chơi, nên hễ ai nghe đến hai chữ ĐỨC THÔNG là lớn bé, già trẻ trong làng đều sợ đến xanh mặt, mặc dù làng Hội Kê cũng có một vạn chài đông đảo, võ nghệ cao cường, cũng anh hùng nhất khoảnh chẳng kém gì. Cảm tưởng đó, giờ đây nhớ lại, tôi vẫn còn thấy sợ và buồn cười. Còn một câu nữa cũng nói đến Tuần Vường, nhưng là một câu nói về phong thủy, hình như là của Thánh địa lý Tả Ao. Câu đó là “Đầu đội núi ĐỌI, chân rọi Tuần Vường, đích huyệt Đế vương”. Núi Đọi là một núi thấp và nhỏ ở làng CẦU KHÔNG  thuộc tỉnh Hà Nam, còn Tuần Vường là nơi làng quê tôi cũng gần đó, qua bao năm tháng đổi thay với những cái tên như làng Hội Kê, xã Quần Hiền, liên xã Tam Tỉnh cho đến ngày nay là xã Hồng Lý, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Người ta cho rằng huyệt đế vương này ở vùng Tức Mạc, ngoại thành của thị xã Namđịnh, là quê hương của nhà TRẦN (và cũng là quê hương của cô TƯ HỒNG sau này nữa). Chính nhà Trần được phát mả đế vương là vì hài cốt của tiên tổ đã được an táng vào đúng chỗ huyệt đó. Chẳng biết có đúng thế không, nhưng cụ Tả Ao có nói rằng “Tiên tích đức, hậu tầm long”, nghĩa là người nào muốn được đất thì trước hết gia đình phải có nhiều phúc đức đã, rồi sau mới đi tìm long mạch thì mới có kết quả được. Cũng có người  nói rằng khi người Pháp đến cai trị vùng này, cũng tin tưởng rằng vùng này có huyệt đế vương thật, nên mới nhân dịp cải tạo giao thông, đã cho đào lấp lại khúc Ngã Ba Tuẩn Vường này để cho “đoạn thương long mạch”, tránh được việc rắc rối sau này. Chỗ này chính là NGÃ BA TUẦN VƯỜNG, ngày nay gọi là TẮC GIANG là sông bị lấp. Liền đó có một cái chợ cũng gọi là CHỢ BẾN TẮC GIANG. Thực ra, chỗ Ngã Ba Tuần Vường có những đợt sóng dữ và xoáy nước rất nguy hiểm cho tàu bè qua lại. Thường vào những chiều mùa hạ, khi trời lộng gió, mặt sông nổi lên những đợt sóng trắng xóa xô đuổi nhau nên dân chúng gọi là sóng bạc đầu hay sóng thần. Hai bên bờ sông có đền thờ vua Thủy Tề cho các thuyền bè qua lại có chỗ cúng vái và cầu bình an khi qua khúc sông này. Thế rồi, có một lần, một canô chở khách từ Namđịnh đi Hànội, gặp lúc gió to nước xoáy, bị đắm ngay chỗ ngã ba sông này. Trong số hành khách hôm đó có một đại úy người Pháp bị chết đuối. Mấy ngày sau, vạn chài trên ngã ba sông này mới tìm được xác. Đúng lúc vạn chài này cũng đã quá ngán cái cảnh sông nước, sống trong lo sợ ở khúc sông này, nên đã họp nhau làm đơn xin viên Công sứ Thái Bình trả công vì đã vất vả mới tìm được xác của nạn nhân, bằng cách xin cắt cho một dẻo đất ở cuối làng Hội Kê để lập thành một làng mới. Viên Công sứ cũng muốn trả ơn nên thuận cho. Thế là làng Mỹ Cơ được thành lập, và đó là làng Mỹ Cơ ngày nay. Mỹ Cơ có nghĩa là cơ hội tốt đẹp, có lẽ cũng vì thế mà làng này nay cũng đã trở nên trù phú chăng ?

Lại nói thêm về Cửa Tuần Vường hay Ngã Ba Tuần Vường, cũng cùng là một chỗ, một địa điểm. Khi người Pháp chưa đến đặt nền cai trị ở Việt Nam, thì nơi đây là một ngã ba sông, chỗ tiếp giáp giữa sông Hồng Hà và sông Hoàng Giang. Sông Hoàng Giang bắt nguồn từ dãy núi đá vôi chảy từ Phủ Lý (thị xã Hà Nam) qua CẦU KHÔNG, rồi đổ vào sông Hồng Hà. Quãng sông từ Phủ Lý đến Ngã Ba Tuần Vường là sông HOÀNG GIANG, nên một làng tại ngã ba sông này lấy tên là làng Đại Hoàng, ỡ hữu ngạn sông Hồng. Đây là quê hương của Bà chánh thất cụ Nguyễn Hữu Hân. Mộ chí của Bà hiện còn tại nghĩa trang Hội Kê, ngay trước cửa đình làng. Đây cũng chính là làng Vũ Đại hư cấu, quê hương của Chí Phèo và Bá Kiến trong tác phẩm cùng tên CHÍ PHÈO của nhà văn Nam Cao. Hiện nay mộ phần và nhà từ đường của nhà văn này ở chính ngay trên nền đất cũ của nhà ông, đã được nhà nước công nhận là một di tích lịch sử, khá khang trang và đẹp đẽ. Chỗ này hiện nay không còn dấu vết gì của ngã ba sông nữa, vì người Pháp đã cho lấp chỗ cửa sông này, và được gọi với cái tên mới là “BẾN TẮC GIANG’, và một cái chợ nhỏ ở chỗ này, đầu đường dẫn vào làng Đại Hoàng được gọi là CHỢ BẾN TẮC GIANG hay CHỢ BẾN TẢO MÔN. Làng Tảo Môn này, chỗ giáp ranh với làng Phương Trà có một bến “màn xế” tàu thủy, là chỗ giống như trạm dừng của xe buýt để trả hoặc lấy thêm khách ở bến sông.

          Như trên đã nói, thế thì hai danh xưng Hội Kê và Tuần Vường có phải là cùng một chỗ hay là hai nơi khác nhau ? Thực ra thì có làng Hội Kê và làng Phú Hậu bên cạnh chứ không có làng Tuần Vường. Nếu ta lưu ý một chút, thì thấy Hội Kê là một làng quê nằm trên tả ngạn sông Hồng thuộc lãnh thổ của tỉnh Thái Bình, còn Tuần Vường là chỗ ngã ba sông, nơi tiếp giáp với ba tỉnh HÀ NAM, NAM ĐỊNH (bên hữu ngạn) và THÁI BÌNH (bên tả ngạn). Chính vì lý do này mà nơi đây – trong đó có làng Hội Kê – về sau mới có tên là TAM TỈNH (sẽ nói rõ ở phần sau).

---o0o---

Saturday 6 November 2021

Tìm về quá khứ - Quê cũ năm xưa : Lời nói đầu (Nguyễn Hữu Quyền - Di cảo) - Kỳ 1

 

LỜI NÓI ĐẦU

          Tôi đã phân vân mãi, trước khi cầm bút viết những dòng này. Phân vân là vì, nay tôi tuổi đời đã cao : đầu óc còn tỉnh táo, mắt chưa mờ, tai còn thính, chân đã hơi chậm, tay nhiều lúc đã run, chữ viết không còn được như ý nữa. Tôi đã nghĩ rằng nếu những điều mình biết cứ để trong đầu, không viết ra giấy, sau này mình không còn nữa, thì ai là người kể lại cho con cháu nghe đây? Và nếu viết ra giấy, không phải một vài ngày là xong. Sức lao động bỏ ra để làm việc, tôi cũng đã quen và không cần phải cố gắng lắm, nhưng dù sao vẫn còn bị hạn chế vì thời gian để làm việc liệu có còn đủ không? Vả lại, với chút sức khỏe mỏng manh còn lại, nhiều lúc cũng cần phải nghỉ ngơi để dưỡng sức và bồi bổ. Vì thế mà cứ phân vân, do dự : VIẾT hay THÔI ?

 

Giữa lúc đó thì tôi gặp ông Bùi Đình Hòe, một cố nhân và bạn tri kỷ của tôi nơi quê hương từ hồi cả hai còn rất trẻ. Mãi sau 1975, ông mới vào ở hẳn miền Nam. Nghe chuyện, ông đã say sưa, hăng hái khuyến khích tôi làm và cần làm ngay, nếu không thì thật là uổng. Tuy vậy, nhưng tôi vẫn chưa quyết định được ngay, bởi còn nhiều lẽ. Tiếp đó, tôi lại gặp ông Nguyễn Minh Chính, nhà văn, nhà báo và cũng là bà con nơi quê  nhà năm xưa, từng công tác ở Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Thái Bình, và hiện nay tại  Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Bình Dương. Ông đến chơi với tôi, cũng khuyến khích, cổ võ và hứa với tôi là sẽ cung cấp những tư liệu cần thiết mà ông có, để nói về quê hương. Lúc đó tôi mới dứt khoát quyết định, Sau đó, tôi nhờ ông Ngô Hưng Đan, một cựu đồng nghiệp của tôi ở miền Nam, đánh máy vi tính bản thảo của tôi để in thành sách. Ông Đan đã ngày đêm cặm cụi, gò lưng trên giàn máy vi tính, làm việc đó cho tôi để chóng xong.

Tôi xin tỏ lòng tri ân các ông, và coi như một kỷ niệm đẹp với các ông trong cuộc sống tất bật mà chúng ta đang trải qua ngày nay. 

 

Tp HCM ngày 01-4-2008

NGUYỄN HỮU QUYỀN

Wednesday 20 October 2021

Cochinchina có liên quan gì đến Cửu Chân không? (Trần Thanh Ái - Nghiên Cứu Lịch Sử)

 

Trần Thanh Ái

Trong bài viết có tựa là “Cochinchina: Reassessment of the Origin and Use of a Westernized Place Name”(1) công bố năm 2007 tại Hoa Kỳ, tác giả Vu Dinh Dinh đã cố chứng minh rằng tên gọi Cochinchina là do ghép từ hai chữ Cửu ChânChina, chớ không phải Giao ChỉChine (tức China) như L. Aurousseau đã công bố trong một nghiên cứu năm 1924. Gần đây, một số nhà nghiên cứu Việt Nam chỉ dựa vào bài viết của Vu Dinh Dinh để phản bác Aurousseau, mà không đưa ra thêm được bằng chứng nào mới mẻ, như thể lập luận của Vu Dinh Dinh đã hoàn hảo. Thế nhưng trong lập luận của Vu Dinh Dinh còn rất nhiều sơ hở, nên không chắc chắn, và vì vậy kết quả không đáng tin cậy. Vì khuôn khổ một bài báo có hạn, nên trong bài viết này chúng tôi chỉ tập trung vào việc phân tích lập luận của tác giả Vu Dinh Dinh mà thôi, còn những cách giải thích khác về chữ Cochinchine/Cochinchina, chúng tôi sẽ đề cập đến trong một bài viết khác.

  1. Lịch sử vấn đề

Thật ra ý tưởng của Vu Dinh Dinh không phải là mới, vì khoảng năm 1886 vị giáo sư người Anh gốc Pháp Terrien de La Couperie đã có lần nêu ra nhưng chưa chứng minh, và thỉnh thoảng một số tác giả phương Tây cứ thế mà trích dẫn. H. Yule & A. C. Burnell trong quyển Hobson-Jobson: A Glossary of Colloquial Anglo-Indian Words and Phrases, and of Kindred Terms, Etymological, Historical, Geographical and Discursive dựa vào một tham luận của giáo sư chỉ nêu ngắn gọn là Cochin-china được kết hợp từ Kuu-Chӧn kèm theo ghi chú về hai cách phát âm của người Trung Hoa “Chin. Kiu-Ching, South Chin. Kau-Chen” (Yule & Burnell A. C. 1886, tr. 174). Rất tiếc là mấy năm sau đó ông qua đời, nên ý tưởng ấy mãi mãi không được chứng minh. Khi viết bài “Sur le nom de Cochinchine” vào năm 1924, chắc chắn là Aurousseau đã có biết ý tưởng của Terrien de Lacouperie, vì ông đã tham khảo mục Cochin-China trong sách của H. Yule & A.C. Burnell. Nhưng Aurousseau không nhắc đến giả thuyết ấy, có lẽ vì chẳng qua đó chỉ là một ý kiến không dựa trên dữ liệu khoa học nào, nên không nhất thiết phải tranh luận. Trước đó, P. Pelliot trong một bài nghiên cứu về Phù Nam (1903, tr. 299) cũng đã bác bỏ ý kiến của Terrien de Lacouperie, nhưng cũng chưa đưa ra lập luận đầy đủ để bảo vệ quan điểm của mình.

Sử gia Trần Trọng Kim trong tác phẩm Dọc đường gió bụi (viết xong năm 1949, xuất bản năm 1969) cũng tỏ ra lúng túng về nguồn gốc chữ Cochinchine: “Người Pháp cũng biết thế nên mới dựng tiếng tàu là Tông Kinh (Ðông Kinh) gọi bắc kỳ, và dùng tiếng Cochinchine là tiếng gì chẳng biết để gọi nam kỳ cho ra vẻ ba nước khác nhau.” (Trần Trọng Kim 1969, tr. 62)

  1. Một số nhược điểm trong lập luận của tác giả

Khi đọc bài viết của Vu Dinh Dinh, chúng tôi phát hiện những nhược điểm có thể làm sai lệch trầm trọng kết quả nghiên cứu của tác giả. Những nhược điểm đó là:

2.1. Thiếu kiểm chứng trong các suy luận

Khi khảo sát các bản đồ cổ của châu Âu, Vu Dinh Dinh nhận thấy rằng từ 1502 các bản đồ ghi nơi lãnh thổ người Việt sinh sống là CHANOCOCHIM hoặc CHINACOCHIM (bản đồ Cantino 1502, Canerio c.1502), CHINACOCHIN (bản đồ Maiollo 1508), COCHIM DA CHINA (hải đồ Rodrigues c.1513)… Nhưng khi đọc bản đồ thế giới năm 1529 của Ribeiro, ông thấy tên của lãnh thổ người Việt được viết là CAUCHECHINA, ông bèn cho rằng Ribeiro đã điều chỉnh cách viết cho đúng với địa danh Cửu Chân sau khi người Bồ Đào Nha có những cuộc tiếp xúc trực tiếp đầu tiên với người Việt. Để đi đến kết luận này trước tiên ông nhận thấy chữ viết này gần với cách đọc chữ Cửu Chân (tên một quận ở Thanh Hóa), rồi ông cho rằng địa danh này tồn tại đến khi người Bồ Đào Nha đặt chân tới nước ta(2), còn địa danh Giao Chỉ bị người Việt bỏ đi, không dùng lại.

Sự suy luận này tưởng chừng như là đúng, vì nó phù hợp với một vài chi tiết lịch sử, nhưng thật ra chỉ là võ đoán, vì tác giả không nêu ra được bằng chứng nào để củng cố suy luận đó cả: chỉ cần nêu ra vài câu hỏi đơn giản cũng đủ thấy sự chông chênh của suy luận ấy. Người Bồ Đào Nha đầu tiên cập thuyền vào cảng nào của nước ta? Cửu Chân có phải là trung tâm giao thương trong khu vực không, nhất là trong các thập niên đầu thế kỷ XVI? Ngay cả khi thuyền của họ cập vào một địa điểm nào đó thuộc quận Cửu Chân xưa, tại sao người Bồ Đào Nha chỉ biết tên xưa của nơi đó, mà lại không biết tên Thanh Hóa, Thiên Xương, Tây Đô hay tên nước được lưu truyền rộng rãi trong nhân dân lúc ấy là nước Nam như Lý Thường Kiệt đã gọi (từ điển A. de Rhodes có ghi các cách gọi này), hay nước Đại Việt như chính sử thời ấy đã dùng?

Chưa hết, nếu có chút ít kiến thức về cuộc chinh phục vùng Viễn Đông của người châu Âu thời ấy, chắc chắn không ai có thể tin được suy luận trên đây, vì Ribeiro không thể có được thông tin về những cuộc tiếp xúc trực tiếp đầu tiên ấy để mà điều chỉnh tên nước Việt. Lý do đơn giản là vì phái đoàn Bồ Đào Nha đầu tiên được cử đi tiếp xúc với Đại Việt vào năm 1523, trong khi ngay từ năm 1518 ông đã chạy sang phục vụ cho vua Tây Ban Nha (Vigneras L.A. 1962, tr. 76), đối thủ cạnh tranh quyết liệt của Bồ Đào Nha, đặc biệt là trong vụ tranh chấp quần đảo hương liệu mà ngày nay ta gọi là Maluku. Cũng cần nhắc lại là vào thời ấy, các thông tin liên quan đến lộ trình vòng qua mũi Hảo Vọng để đến Viễn Đông được Bồ Đào Nha giữ bí mật gắt gao, với khung hình phạt tử hình. Hơn nữa, việc công bố bản đồ Ribeiro 1529 nằm trong chiến dịch giúp Tây Ban Nha giành quyền khai thác quần đảo Maluku, nên nhiều vùng khác không được tác giả quan tâm đầy đủ, như một số đoạn trên bờ biển của Vịnh Thái Lan và Vịnh Bắc bộ còn bỏ trống. Chỉ từ khi người Tây Ban Nha đã chiếm được Philippines và thành lập thành phố Manila năm 1571, và nhất là khi Bồ Đào Nha nằm dưới sự cai trị của hoàng gia Tây Ban Nha năm 1580, thì mới bắt đầu có người Tây Ban Nha đi lại trên vùng biển Đông của Việt Nam, mà trước đây là độc quyền của người Bồ Đào Nha. Hơn 100 năm trước, L. Fournereau đã cho chúng ta biết như sau:

“Điều khiến chúng tôi quan tâm đến bản đồ của Ribeiro, đó là tác giả này mặc dù là gốc người Bồ Đào Nha, nhưng từ khi đến Tây Ban Nha và định cư tại Séville, ông đã không hay biết gì về những phát hiện của đồng bào mình. Ông ta đã hoàn toàn trở thành người Tây Ban Nha và bản đồ này phản ánh kiến thức của các nhà vẽ bản đồ ở Casa de Contratacion” (Fournereau L. 1895, tr. 11).

Tình trạng giấu bí mật thông tin hàng hải là rất phổ biến giữa các cường quốc trong thời đại “khám phá”. Thế mà khi có nhận định trái ngược với sự hiểu biết phổ biến trong cộng đồng, tác giả Vu Dinh Dinh đã không viết dòng nào để chứng minh là Ribeiro đã lấy thông tin mới từ đối phương của mình để cập nhật cho bản đồ 1529.

Trong bài viết, tác giả đã diễn dịch không chút thận trọng khi đọc chữ QVÃCII thành “Giao Chỉ” trong bản đồ thế giới của Petrus Plancius vẽ năm 1592 mà không chứng minh được cách gọi này có thật hay không. Chúng tôi đã mất không ít thời gian để tra cứu, nhưng vẫn không tìm ra tài liệu nào gọi đất Giao Chỉ xưa là QVACII như tác giả nói cả! Thật ra, thay vì viết QVANCII (Quảng Tây), tác giả lại viết QVÃCII, nhưng do chất lượng bản đồ quá kém nên tác giả không nhận ra dấu ( ᷉ ) bên trên chữ A, rồi bèn gán cho đó là “Giao Chỉ”, để phù hợp với lập luận của mình. Đã thế, tác giả còn “nhìn ra” ở phía Bắc vùng CAVCHINCHIN và QVÃCII có chữ QVANCII nữa! Thật ra phía Bắc của vùng này chỉ có chữ “Quancyo”(3) (?) trong bản đồ này được viết thường, dùng để chỉ một địa danh nhỏ như thị trấn, khác với địa danh viết chữ lớn để chỉ một vùng rộng lớn như Quảng Tây của Trung Hoa.

1

Hình 1: Bản đồ thế giới của Petrus Plancius 1592 (phóng to miền Bắc Việt Nam). Có thể xem đầy đủ tại https://nla.gov.au/nla.obj-2880952242/view

Những kết luận vội vã như thế không thiếu trong bài viết của Vu Dinh Dinh, chẳng hạn như ông rất quả quyết rằng chưa bao giờ Giao Chỉ được xem là “country” hay “kuo” (quốc): trong phần tiếp theo ngay bên dưới đây chúng tôi sẽ cung cấp thông tin về chi tiết này.

2.2. Xem nhẹ sự lưu hành kiến thức địa lý trong khu vực

Thiếu sót quan trọng trong cách tiếp cận của Vu Dinh Dinh là không hề quan tâm đến tên mà các nước trong khu vực dùng để gọi đất nước của người Việt như thế nào trước khi người Bồ Đào Nha tới. Trong việc định danh các nước trong vùng, Trung Hoa có vai trò không thể phủ nhận được, vì nó đã từng là trung tâm văn hóa, chính trị thương mại trong khu vực; và vì nước ta lại nằm ngay cửa ngõ phía Tây Nam của thương cảng Quảng Châu của họ, nên tàu thuyền các nước thường đi ngang qua vịnh Bắc bộ để tránh Thất Châu dương đầy bất trắc. Hơn nữa, phải nhìn nhận sức lan tỏa rất lớn của sách vở Trung Hoa thời ấy ra ngoài biên giới quốc gia, qua đó cách gọi tên của họ đối với các nước lân bang được phổ biến khắp nơi, còn chúng ta ngay cả khi đã giành được độc lập, chúng ta đã lần lượt đặt tên nước như Vạn Xuân, Đại Cồ Việt, Đại Ngu, Đại Việt, nhưng thời ấy không nước ngoài nào biết đến các tên đó. Vì thế, dù muốn dù không, tên mà người Trung Hoa dùng để gọi đất nước chúng ta vào thời bấy giờ đã được các dân tộc khác dựa vào đó mà mô phỏng theo. Hệ quả là mặc dù tên gọi Giao Chỉ không được người Việt ưa chuộng như Cửu Chân, nhưng nó lại được sách vở của người Trung Hoa sử dụng trong nhiều thế kỷ, từ Hán thư (thế kỷ V) đến Minh sử (soạn xong năm 1739), và chắc chắn rằng các nước có giao dịch với họ như Nhật, Cao Ly, Xiêm, Mã Lai, Ba Tư, Á-rập… không thể không biết đến tên đất Giao Chỉ. Để chứng minh cho việc này, chúng ta chỉ cần lướt qua một số tài liệu Trung Hoa được biên soạn từ lúc mà các cuộc giao lưu Đông Tây bắt đầu phát triển, từ đầu thiên niên kỷ thứ 2, cũng đủ rõ.

Sách Lãnh Ngoại Ðại Ðáp 嶺外代答 do Chu Khứ Phi biên soạn năm 1178 gọi Vịnh Bắc bộ là 交阯洋 Giao Chỉ dương, tức biển Giao Chỉ (Hồ Bạch Thảo 2010). Sách Chư Phiên chí 諸蕃志 (khoảng 1225) của Triệu Nhữ Quát 趙汝适 đời Tống dành chương đầu tiên nói về Giao Chỉ Quốc 交趾國 (nước Giao Chỉ).

2

Hình 2: Chương Giao Chỉ quốc 交趾國 trong Chư phiên chí quyển thượng 諸蕃志卷上 thuộc bộ Khâm định tứ khố toàn thư 欽定四庫全書

Sách Văn hiến thông khảo 文獻通考 (1317) của Mã Đoan Lâm bắt đầu bằng chương nói về Giao Chỉ(4): “Đầu nhà Hán, Giao Chỉ thuộc Nam Việt. Sau khi đã chinh phục được Nam Việt, Hán Vũ đế chia xứ này ra thành 9 quận: 澹耳 Đam Nhĩ, 珠崖 Châu Nhai, 南海 Nam Hải, 蒼梧 Thương Ngô, 鬱林 Uất Lâm, 合浦 Hợp Phố, 交趾 Giao Chỉ, 日南 Nhật Nam và 九真 Cửu Chân. Có nghĩa là thời nhà Hán, Giao chỉ vừa là tên của một xứ, vừa là tên của một quận, còn Cửu Chân chỉ là tên quận mà thôi.

Đến Tống sử (1346) trong Liệt truyện 247, Ngoại quốc tứ (Nước ngoài, phần 4) thì mới đề cập đến nước Giao Chỉ (cùng với nước Đại Lý), nghĩa là xem Giao Chỉ là nước ngoài. Trong phần này, Tống sử nhắc đến hai chữ 交趾 (Giao Chỉ) tổng cộng 21 lần, và chỉ 1 lần nhắc đến chữ 九真 (Cửu Chân) là một quận của Giao Chỉ.

Nguyên sử (1370) “Liệt truyện 96 Ngoại di nhị” có chương nói về An Nam mở đầu bằng cụm từ 安南国,古交趾也 (An Nam quốc, cổ Giao chỉ giã). Đặc biệt là phần này không hề nhắc đến Cửu Chân, mặc dù lúc bấy giờ địa danh này vẫn còn được người Việt dùng để chỉ một đơn vị hành chính. Và trong thời đô hộ của nhà Minh (1407-1427), họ lại bỏ tên An Nam mà dùng lại tên Giao Chỉ để gọi nước ta.

Năm 1618, Trương Tiếp biên soạn Ðông Tây Dương Khảo 東 西洋考. Trong quyển 7 có đoạn ghi lại việc Tuần phủ đô ngự sử Phúc Kiến tên là Đồ Trạch Dân xin bỏ lệnh cấm biển năm Long Khánh nguyên niên và được triều đình chuẩn phán(5) năm 1567: “Chuẩn phán Đông Tây nhị dương, cái Đông dương nhược Lữ Tống, Tô Lộc(6) chư quốc, Tây dương nhược Giao Chỉ, Chiêm Thành, Xiêm La chư quốc” (Đồng ý cho các nước ở biển Đông là Lữ Tống, Tô Lộc, các nước ở biển Tây là Giao Chỉ, Chiêm Thành, Xiêm La). Như vậy chữ Giao Chỉ cũng được dùng để gọi nước ta, cùng với Chiêm Thành, Xiêm La. Điều đó có nghĩa là vào thời nhà Minh, các công văn giấy tờ của Trung Hoa vẫn gọi nước ta là Giao chỉ quốc. Ngoài ra, trong Ðông Tây Dương Khảo cũng có nói về vịnh Bắc bộ mà họ gọi là 交阯洋 Giao Chỉ dương. Sách này còn cho biết rằng Giao Chỉ là đầu cầu trong tuyến đường thương mãi và ngoại giao giữa Trung Hoa và các nước Đông Nam Á (Hồ Bạch Thảo, 2010).

Về phát âm, tưởng cũng nên nhắc lại rằng “Trung Cổ Hán Ngữ” (Middle Chinese, Ancient Chinese) phát âm 交阯 là /kˠau  t͡ɕɨX/(7).

Còn các nước lân bang khác gọi nước ta như thế nào? Người Nhật thời ấy gọi nước ta là Kochi, mà ta có thể tìm thấy dấu tích trên nhiều tài liệu, trong đó phổ biến nhất là tên gọi các cuộn tranh còn lưu giữ đến ngày nay(8), hoặc Kochi-koku, tức Giao Chỉ quốc (Gunn G. 2017, tr. 146). Người Mã Lai gọi nước ta là Kuchi (Yule H. & Burnell A.C., 1886, tr. 174), hoặc Kochi (Wilkingson 1901, tr. 545). Còn người Indonesia gọi là Kotji(n)tjina (Manguin P.Y., 1972, tr. 42). Trong nhật ký hải hành của Sidi Ali Celebi năm 1554, một đô đốc của đế quốc Ottoman, có ghi hải trình đi đến Trung Hoa qua nhiều chặng, trong đó chặng từ Singapore được mô tả như sau:

“Từ Sahr-i-naw(9) đến mũi Kambusa(10), nơi mà ngôi sao bắc cực nằm ở độ cao 5 độ về hướng Đông Nam-¼ Đông; từ Kambusa đến Samba(11) nơi mà sao bắc cực ở độ cao 7 độ về hướng Bắc Đông Bắc; từ Samba đến Vịnh Kawčī, nơi mà sao bắc cực ở độ cao 10 độ Bắc-Tây Bắc, và thêm nữa, từ Samba đến cảng Hải Nam nơi sao bắc cực ở độ cao 12 độ ¼, hướng Bắc-Đông Bắc.” (Ferrand G. 1913, tr. 500-501)

Khi dịch tài liệu này và đối chiếu với các hải trình khác, G. Ferrand nhận ra rằng Vịnh Kawčī chính là Vịnh Giao Chỉ, tức Giao Chỉ dương đã nói ở trên. Thậm chí, Sidi Ali Celebi còn cho biết rằng cảng Kawčī chính là “cảng của vua chúa xứ này” (Ferrand G. 1913, tr. 515). Aurousseau cũng ghi rằng người Quảng Đông phát âm Giao Chỉ là Kawči (Aurousseau L., 1924, tr. 578). Có thể khẳng định rằng sự tương đồng trong những cách gọi tên này chính là kết quả của sự giao lưu trong khu vực trong nhiều thế kỷ: khi người Á-rập đến Quảng Đông buôn bán, hoặc khi họ tiếp đón thương khách Trung Hoa trên các cảng ở Ấn Độ dương, họ cũng tiếp nhận cách mà người Trung Hoa gọi nước ta trước khi người Bồ Đào Nha đến. Và tuyến đường thương mại ấy đã trở thành kênh truyền bá liên văn hóa giữa các nước nằm trên tuyến đường, trong đó có Indonesia, Mã Lai, Thái Lan. Khi gán nguồn gốc Cửu Chân vào địa danh Cauchinchina/Cochinchina, chắc rằng tác giả Vu Dinh Dinh không hề thắc mắc tại sao nhiều địa danh đã có mặt trên bản đồ Cantino 1502 trước khi người Bồ Đào Nha đặt chân đến vùng Đông Nam Á, và ai đã đặt tên cho những địa danh ấy? Bởi vì nếu quan tâm, ông sẽ biết rằng Vasco da Gama đã thừa hưởng được kiến thức hàng hải và địa lý của người Á-rập bằng nhiều nguồn, qua nhiều giai đoạn từ thời hoàng tử Henri thành lập một trung tâm nghiên cứu hàng hải ở Sagres năm 1415, và gần nhất là qua viên hoa tiêu thuê được ở Malindi năm 1498 để dẫn đường đến Calicut (Ấn Độ). Chính vì thế mà Ferrand kết luận là những hải đồ của người Bồ Đào Nha dựa trên những tài liệu hướng dẫn hàng hải của người Á-rập (Ferrand G. 1924, tr. 247). Ấy thế mà người Á-rập lại tiếp nhận cách định danh nước ta của người Trung Hoa, và biến 交阯 thành Kawčī theo cách phát âm của họ.

Ngoài ra, để khảo sát xem tài liệu trên thế giới chuyển ngữ chữ Cochinchina/Cochinchine ra tiếng Hoa như thế nào, ta có thể gõ các từ khóa (đặt trong ngoặc kép) “交趾支那” [Giao Chỉ Chi na], “交阯支那” [cách viết khác của Giao Chỉ Chi na] và “九真支那” [Cửu Chân Chi na] vào trang Google. Kết quả là tần số xuất hiện của từ khóa thứ nhất là 23.800 lần, tần số của từ khóa thứ hai là 1.110 lần, trong khi tần số của từ khóa “九真支那” [Cửu Chân Chi na] là 0, nghĩa là không có lần nào! Kết quả trên đây tuy không có tính chất quyết định, nhưng nó cũng nói lên được khá rõ nhận thức của cộng đồng về nguồn gốc của chữ Cochinchina. Vì thế thật là vội vã nếu cho là người Bồ Đào Nha đã dùng tên một quận không còn được dân bản địa dùng nữa từ hơn 100 năm là Cửu Chân để gọi nước Việt xưa.

2.3. Sai lầm khi đặt trọn vẹn niềm tin vào bản đồ cổ

Tác giả đã bỏ ra nhiều công sức để sưu tầm 37 bản đồ có thể hiện lãnh thổ của người Việt sinh sống, được vẽ từ 1502 đến 1665. Tuy nhiên, đó lại là loại bằng chứng duy nhất mà tác giả dùng để chứng minh lập luận của mình, mà không hề đắn đo về mức độ chính xác của bản đồ thời ấy. Chính vì thế mà tác giả đã nhận định: “bản đồ cung cấp nguồn thông tin tốt nhất về các địa danh [nguyên văn: “the best source of information on place names”]. Những ghi chú chính xác của dữ liệu bao gồm việc xác định vị trí, kích cỡ và hình dáng của nó, cách thức gọi tên nó, và ngày tháng tương đối mà nó được dùng”.

Thật ra, ngay cả những bản đồ hiện đại được cập nhật thường xuyên như Google Maps hay Mapcarta cũng vẫn có không ít dữ liệu thiếu chính xác, nhất là tên gọi những địa danh ít phổ biến, huống hồ chi các bản đồ thế kỷ XVI vẫn chỉ là những phát thảo còn rất thô sơ, dựa trên những thông tin ít ỏi thiếu chuẩn mực, tỷ lệ xích rất nhỏ, lại được thực hiện nhằm phục vụ chủ yếu cho giới đi biển. Tình trạng “độc quyền kiến thức hàng hải” của các cường quốc thời bấy giờ khiến nhiều bản đồ chỉ thể hiện kiến thức của từng quốc gia, như Gallois đã từng khái quát:

“Bồ Đào Nha cấm các hoa tiêu lưu truyền các tấm bản đồ mà người ta giao cho họ trong mỗi chuyến đi, với hình phạt tử hình. Vì vậy có hệ thống bản đồ của từng quốc gia, trong đó người Bồ Đào Nha chỉ biết được kết quả khám phá của người Bồ Đào Nha, và người Tây Ban Nha chỉ biết được những gì người Tây Ban Nha khám phá được.” (Gallois L., 1890, tr. 98)

Thử quan sát cách thể hiện bán đảo Đông dương trong các bản đồ xưa, chúng ta sẽ thấy nó rất đỗi xa lạ với các bản đồ hiện đại.

2.3.1. Hình dạng địa lý còn xa với thực tế

Về hình dạng bờ biển, các bản đồ từ 1502 đến 1653 ban đầu vẽ mũi Cà Mau nằm rất cao về hướng Bắc bán cầu, và lại rất hẹp như Cantino 1502, thậm chí nó không có mặt trong bản đồ Reinel 1519, dần dần được điều chỉnh lại cho gần với thực tế hơn, như bản đồ Blaeu 1640. Cửa sông Cửu Long, sông Hồng thì nằm rất sâu trong đất liền; đảo Hải Nam vẫn còn dị dạng ngay cả trong các bản đồ Blaeu (1648), de Rhodes (1653), bán đảo Lôi Châu (Trung Hoa) được vẽ như bờ biển bình thường, v.v. Mãi đến bản đồ Carte hydro-géo-graphique des Indes Orientales của R. Bonne vẽ năm 1771 thì hình dáng vùng bờ biển nước ta mới gần với ngày nay. Điều đó không có gì đáng ngạc nhiên cả, vì vào thời ấy kiến thức địa lý của loài người còn khiếm khuyết rất nhiều, nhất là đối với những vùng nằm xa châu Âu, kỹ thuật vẽ bản đồ lại rất thô sơ, phương pháp chiếu ảnh còn sơ khai, nên đương nhiên là có rất nhiều điểm không chính xác. Kiến thức địa lý, cũng như mọi kiến thức khác, đều đi từ sơ khai, đơn giản đến phát triển, ngày càng phong phú hơn, đầy đủ hơn, chứ không thể hoàn thiện ngay được.

Riêng đối với bản đồ Ribeiro 1529, chúng ta thấy còn bỏ trống nhiều đoạn bờ biển như phía Bắc và Tây Bắc Vịnh Thái Lan, cửa sông Hồng, v.v. Điều này đã được giải thích là sau khi đàm phán Badajoz-Elvas kết thúc vào tháng 1524 không có kết quả, Tây Ban Nha bèn chuẩn bị một bản đồ để tung ra nhằm giành lợi thế cho mình trong cuộc đàm phán mới, và đó là bản đồ Ribeiro 1529, ngay cả khi nó chưa hoàn chỉnh, vì Ribeiro chỉ tập trung vào vùng đang tranh chấp giữa hai cường quốc mà thôi.

2.3.2. Các địa danh còn hỗn độn

Về địa danh ghi trên các tấm bản đồ cổ thì đó còn là cả một kho bí hiểm mà đến nay còn nhiều chi tiết chưa giải mã được. Chẳng hạn như trong bản đồ Cantino 1502, khi nhìn vào biển Đông, người đọc bắt gặp những địa danh sau đây: a fulu Candora (tại vị trí đồng bằng sông Cửu Long), ylha dos Baixos Fullucandora (Pulo Condor, Côn Đảo), ylha de bareas (đảo ?), Ylha Sama (đảo ?), Ylha Adena (đảo ?). Hoặc như trong bản đồ Mercator do J. Hondius xuất bản năm 1613, ta có thể đọc được từ trên xuống nhiều địa danh lạ lùng: Binpuri (?), Choy (?), Charchi (?), Pulo St Polo (?), Pulo Otan (?), Cantam (Cù lao Ré?), Pulo Citi (Pulo Cécir), Pulo Candor (Pulo Condor, Côn đảo), Pulo Hube (Pulo Obi, Hòn Khoai)… A. de Rhodes là người sống nhiều năm ở nước ta, các địa danh mà ông ghi trong bản đồ Regnũ Annam (1653) phần lớn do chính ông tìm hiểu tại thực địa chứ không phải tham khảo từ các tác giả phương Tây, thế mà các địa danh ấy cũng còn gây không ít trở ngại cho người Việt. Từ Bắc xuống Nam ta thấy Ke ga (?), Ke Suoc (?), Ke Tay (Kẻ Tây. Hà Tây?), Ke fau (?), Ke Bac (Kẻ Bắc, Hà Bắc?), Trang tay (?), Ke Nam (Kẻ Nam, Hà Nam?), Ha hoy (?), Kemaoc (?), Kecio (Kẻ Chợ, Hà Nội ?), v.v.

Chỉ lướt qua một vài vị trí quen thuộc trên bờ biển nước ta được thể hiện trên vài bản đồ thôi, chúng ta cũng thấy rằng hoàn toàn không như Vu Dinh Dinh nói “bản đồ cung cấp nguồn thông tin tốt nhất về các địa danh”!

Tại sao có nhiều sai lệch trong cách ghi địa danh trên các bản đồ như thế? Trước tiên đó là kết quả của nhiều nguồn cung cấp thông tin bằng nhiều ngôn ngữ hoặc phương ngữ khác nhau, nên sự khác nhau trong các địa danh là không thể tránh khỏi. Mỗi người nhận thông tin trực tiếp tại thực địa sẽ ghi lại cách phát âm bằng ngôn ngữ xa lạ mà tai mình cảm nhận được, rồi viết ra bằng tiếng mẹ đẻ của mình, nên đó chỉ là sản phẩm sau khi đã qua “bộ lọc âm thanh” của người nhận thông tin. Kế tiếp phải kể đến hậu quả của việc “tam sao thất bổn”: người tham khảo các tài liệu sơ cấp đó lại đọc hiểu theo cách của mình, rồi viết lại bằng ngôn ngữ mẹ đẻ của họ, khiến nhiều địa danh ngày càng xa với nguồn ban đầu. Ngay cả việc nhân bản cũng gây ra nhiều sai sót: mặc dù kỹ thuật in ấn đã phát triển khá tốt, nhưng các cường quốc hàng hải thời bấy giờ, đặc biệt là Bồ Đào Nha, đều cấm việc in ấn bản đồ; họ tổ chức sao chép bằng tay thành nhiều bản để hạn chế đến mức tối thiểu khả năng rò rỉ thông tin ra ngoài biên giới. Vì thế, độ chính xác của sản phẩm sao chép hoàn toàn tùy thuộc vào người chép. Trong công việc này, người ta chủ yếu tập trung vào hình dáng bản đồ, còn cách viết địa danh thường rất lôi thôi, do người chép viết dối không thể đọc hiểu được, hoặc do người sao chép không biết ngoại ngữ nên chỉ đồ lại bản gốc mà thôi, như  E.T. Hamy (1887, tr. 63) và L. Gallois (1890, tr. 101) đã từng lưu ý trong khi nghiên cứu các bản đồ châu Âu thế kỷ XVI.

Mà không chỉ các địa danh không quan trọng mới có chuyện bí hiểm này: ngay cả tên các nước trong vùng cũng không tránh khỏi sự rối rắm trong cách viết tên. Ngay cả khi người viết đều cùng đặt chân đến Viễn Đông, nhưng cách ghi tên các vương quốc cũng khác nhau: bản đồ Ribeiro 1529 ghi nước Xiêm la thời ấy là Ansiam, Gastaldi 1561 và Mercator 1569 ghi là Sian, Ortelius 1584 ghi là Chiampa, Sĩao, Hondius 1636 ghi Tsiompa, de Rhodes 1653 ghi là Ciam…

2.3.3. Định vị địa lý sai lệch

Việc xác định vị trí các địa danh trên bản đồ cũng rất thiếu chính xác; điều này rất rõ ràng, ai cũng đều có thể nhận thấy. Thật vậy, với kỹ thuật định vị vĩ độ và kinh độ thời ấy còn rất sơ khai thì không thể nào xác định chính xác vị trí một địa điểm trên bản đồ được, đặc biệt là trên những bản đồ có tỷ lệ xích quá nhỏ mà địa danh lại phải được viết đủ lớn để có thể đọc được. Chẳng hạn đa số các bản đồ thời đó, từ bản đồ Ortelius 1584 đến bản đồ Petrus Plancius (1592), Linschoten 1596 đều định vị tỉnh Quảng Tây (Quancii) ở phía Đông Cochinchina, nhưng ngay từ các tài liệu xưa của Việt Nam như Khâm định Việt sử thông giám cương mục cũng đều biết là nước ta “phía Bắc giáp Quảng Tây”.

Vu Dinh Dinh đã bỏ công sưu tầm bản đồ cổ, nhưng tất cả đều là bản đồ do người phương Tây vẽ, mà không hề quan tâm đến bản đồ phương Đông. Ông sẽ nghĩ gì khi đọc bản đồ Trịnh Hòa Hàng Hải Đồ 鄭和航海圖 được vẽ vào thế kỷ XV và được in trong quyển 240 của bộ Vũ bị chí 武備志 xuất bản năm 1628, trên đó còn đọc rõ dòng chữ 交趾界 (Giao Chỉ giới) ở bên trên bản đồ (cạnh 欽州 Khâm Châu, thuộc Quảng Tây, Trung Hoa) và 交趾洋 (Giao Chỉ dương) ở phía dưới bản đồ?

3

Hình 3: Tấm thứ 10 của Trịnh Hòa Hàng Hải Đồ. Xem đầy đủ tại https://www.loc.gov/resource/g7821rm.gct00058/?sp=10

Được biết là bản đồ này đã được Francisco Rodrigues, một hoa tiêu trưởng của d’Abuquerque, dựa vào đó để phát họa hải trình đi từ Malacca đến Quảng Châu (Manguin P.Y. 1972, tr. 52) vào khoảng năm 1513-1514 nhằm mục tiêu chuẩn bị khám phá Trung Hoa của người Bồ Đào Nha.

Hoặc bản đồ Khôn Dư Vạn Quốc Toàn Đồ (坤輿萬國全圖) được in năm 1602, là bản đồ thế giới đầu tiên do người Trung Hoa vẽ với sự hỗ trợ về kỹ thuật của nhà truyền giáo Matteo Ricci. Nếu như đọc được bản đồ này, ông sẽ thấy trên phần đất nay là miền Bắc Việt Nam có ghi 安南 (An Nam) bằng chữ lớn, và bên dưới 舊交趾 (cựu Giao Chỉ) bằng chữ nhỏ hơn:

4

Hình 4: Vùng 安南 (An Nam) 舊交趾 (cựu Giao Chỉ) được phóng to. Xem ảnh gốc tại: https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BA%ADp_tin:Kunyu_Wanguo_Quantu_by_Matteo_Ricci_Plate_1-3.jpg

Tóm lại, trong hai bản đồ Trung Hoa nói trên, chỉ có chữ Giao Chỉ được dùng để chỉ lãnh thổ của người Việt, còn chữ Cửu Chân không hề có mặt, vì nó chỉ là một đơn vị hành chính nhỏ của Việt Nam, không nhất thiết phải ghi ra trong bản đồ khu vực hay thế giới. Nếu chỉ cần đọc được hai bản đồ này, thì có lẽ ông Vu Dinh Dinh đã phải nghiền ngẫm kỹ càng hơn trong việc đưa ra lời giải thích nguồn gốc chữ Cochinchina khác với những gì mà Aurousseau đã trình bày năm 1924.

  1. Kết luận

Địa danh 交趾 hoặc 交阯 (Giao Chỉ) đã được người Trung Hoa phổ biến khắp nơi, vừa bằng con đường văn bản hành chính, sách vở, vừa qua sự giao lưu trực tiếp giữa những người tham gia tuyến đường Trung Hoa đi Ấn Độ dương qua ngã eo biển Malacca. Khảo sát nguồn gốc tên gọi một địa danh do người nước ngoài đặt ra như chữ Cochinchina mà không quan tâm đến hệ thống bang giao giữa các nước trong vùng thì thật là vô cùng thiếu sót, vì khi giao thương, người ta còn trao đổi nhiều loại thông tin khác nhau, trong đó có kiến thức địa lý. Nhược điểm của bản đồ phương Tây được vẽ vào đầu thế kỷ XVI lúc mới đến Viễn Đông là họ vừa phát họa vừa bổ sung và chỉnh sửa dựa trên những thông tin thu thập được theo thời gian, nên không thể có ngay bản hoàn chỉnh được. Các bản đồ ấy chỉ phản ánh tình trạng kiến thức thô sơ vào thời ấy, với độ chính xác còn rất kém, nên không thể chỉ dựa vào các địa danh được ghi trên đó để phản bác lập luận của Aurousseau được.


(Bài đã đăng trên tạp chí Xưa & Nay số tháng 10 năm 2021)

Tài liệu tham khảo

Aurousseau L., 1922. Exposé de géographie historique du pays d’Annam, traduit du Cương mục. Trong tạp chí Bulletin de l’Ecole française d’Extrême-Orient, tome 22.

Aurousseau L., 1924. Sur le nom de Cochinchine. Trong tạp chí Bulletin de l’Ecole française d’Extrême-Orient, tome 24.

Ferrand G. 1913. Relations de voyages et textes géographiques arabes, persans et turks relatifs à l’ExtrêmeOrient du VIIIe au XVIIIe siècles, Tome I. Paris: Ernest Leroux Editeur.

Ferrand G., 1924. L’élénent persan dans les textes nautiques arabes. Trong tạp chí Journal Asiatique, số tháng 4-6 năm 1924.

Fournereau L. 1895. L’ancien Siam. Paris: Ernest Leroux Editeur.

Gallois L. 1890. Le portulan de Nicolas de Canerio. Trong tạp chí Bulletin de la Société de Géographie de Lyon, số 9. Lyon: Société de Géographie.

Gunn G. 2017. World Trade Systems of the East and West. Leiden, London: Brill.

Hamy E.T. 1887. Note sur la mappemonde de Diego Ribero (1529) conservée au musée de la Propagande de Rome. Trong tạp chí Bulletin de géographie historique et descriptive, số 2. Paris: Ernest Leroux Editeur.

Hồ Bạch Thảo 2010. Biển Giao Chỉ. Trên tạp chí điện tử Diễn Ðàn, ngày 9/4/2010, tại địa chỉ https://www.diendan.org/phe-binh-nghien-cuu/bien-giao-chi

Manguin P.Y., 1972. Les Portugais sur les côtes du Viêt-Nam et du Campa. Paris: Ecole franҫaise d’Extrême-Orient.

Pelliot P., 1903. Fou-nan. Trong tạp chí Bulletin de l’Ecole française d’Extrême-Orient, tome 3.

Trần Trọng Kim 1969. Một cơn gió bụi. Sài Gòn: Nhà xuẩ bản Vĩnh Sơn.

Vigneras L.A. 1962. The Cartographer Diogo Ribeiro. Trong tạp chí Imago Mundi, Vol. 16.

Wilkingson R.J. 1901. A Malay – English Dictionary. Singapore: Kelly & Walsh Limited.

Yule H. & Burnell A. C., 1886. Hobson-Jobson: A Glossary of Colloquial Anglo-Indian Words and Phrases, and of Kindred Terms, Etymological, Historical, Geographical and Discursive. London: JOHN MURRAY, ALBEMARLE STREET.

(1) Được đăng trên tạp chí THE WRITERS POST, ISSN: 1527-5467, số 9 ghép đôi hai kỳ tháng Giêng và tháng Bảy năm 2007. Đường dẫn của bài viết: http://www.thewriterspost.net/V9I1I2_ff6_vudinhdinh.htm. Theo thông báo của tòa soạn, các bài viết trong tạp chí này đã được xuất bản trong tạp chí in trên giấy Wordbridge magazine (ISSN: 1540-1723). Vì không có bản giấy nên chúng tôi sử dụng bài viết trong bản điện tử.

(2) Thật ra, các sách lịch sử Việt Nam như Đại Việt Sử ký toàn thư, Lịch triều hiến chương loại chí, Khâm định Việt sử Thông giám cương mục… không còn nhắc đến địa danh Cửu Chân từ khi Hồ Hán Thương đổi phủ Thanh Hóa thành phủ Thiên Xương năm 1403.

(3) Bản đồ Linschoten 1596 ghi là Quancjic (?), bản đồ Jodocus Hondicus in trong Samuel Purchas 1625 ghi là Quancyc.

(4) Xem bản tiếng Hán tại: http://chinesenotes.com/songshi/songshi488.html

(5) Xem bản tiếng Hán tại: https://ctext.org/wiki.pl?if=gb&chapter=241709

(6) Theo Phạm Hoàng Quân (2011, tr. 122), đó là quần đảo Sulu, thuộc Philippines.

(7) Xem: https://en.wiktionary.org/wiki/%E4%BA%A4%E9%98%AF

(8) Như cuộn tranh Chaya Shinroku Kochi toko zukan (Trà Ốc Tân Lục Giao Chỉ độ hàng đồ quyển), hoặc Shuin-sen Kochi toko zukan (Châu ấn thuyền Giao Chỉ độ hàng đồ quyển (Xem: Trần Đức Anh Sơn, 2014)

(9) Theo Yule H. & Burnell, đó là tên mà người Ba Tư gọi thủ đô mới Ayodhya của Vương quốc Xiêm từ 1350.

(10) Tức Mũi Cà Mau của Việt Nam ngày nay.

(11) Tức Campa, Chiêm Thành.

Sunday 1 August 2021

Những suy diễn không cần thiết trong tập “Trời cao đất thấp chúng ta thì…” (Phan Chính - Báo Bình Thuận)

 

Những suy diễn không cần thiết trong tập “Trời cao đất thấp chúng ta thì…”

BT- Đây là tập tùy bút của tác giả Trần Hữu Ngư, dày 340 trang, phụ bản Đỗ Hồng Ngọc do nhà xuất bản Mỹ thuật ấn hành tháng 12.2015. Nội dung gồm các bài viết ngắn, tản mạn về tình yêu âm nhạc nhiều hơn cả. Trong đó có một vài bài mang nỗi niềm ký ức của tác giả qua một thời với quê hương La Gi, Hàm Tân, Tân Thành (Bình Thuận)… cũng là điều đáng quý. Nhưng rất tiếc, qua đó tác giả đã bộc lộ sự vội vàng và sa vào những vấn đề tưởng là phát hiện độc đáo. Do giới hạn của một bài báo, chỉ xin giới thiệu một vài chỗ dễ gây nhầm lẫn cho người đọc.

Bài “Gió Tết” trang 126, tác giả viết về địa danh La Gi mượn từ một giai thoại: “…trong thời Pháp thuộc, người Pháp đến Lagi, lúc bấy giờ vùng đất này còn hoang vu, người Pháp hỏi thông ngôn: Nơi đây tên là gì? (dịch). Người thông ngôn nghe không rõ hỏi lại người bên cạnh: Là gì? Thằng Pháp “quất” vào “Là gì”. Và nó chết tên từ đó”. Tiếp đến là: “Trước 1975, La Gi viết dính liền nhau (Lagi), nay không hiểu dựa vào đâu mà người ta viết Lagi rời nhau thành hai chữ”. Thật ra, tác giả nên chịu khó tìm hiểu về quá trình hình thành một địa danh, nhất là một địa danh hành chánh của một địa phương phải dựa trên nhiều cơ sở vì đó là một phạm trù lịch sử, có tính khoa học. Không thể nào từ thái độ “lấc cấc” của một anh thông ngôn mà tên lính Tây lấy đó đặt tên cho vùng đất đã định danh trên bản đồ từ dưới thời phong kiến. Vậy người Pháp đặt chân đến La Gi đầu tiên là khoảng thời gian nào để tác giả coi đó là cái mốc ra đời địa danh La Gi. Nếu đọc Đại Nam nhất thống chí quyển 12 (Bình Thuận) do Quốc sử quán nhà Nguyễn soạn xong năm 1882 và được Tu Trai Nguyễn Tạo dịch vào năm 1963, thì địa danh La Gi đã có rồi và được dịch từ chữ Hán ra quốc ngữ là La Di. Kể cả trên “Bình Thuận toàn đồ”, phần Nam phủ Hàm Thuận, vẽ sau năm 1832 ghi bằng chữ Hán tên hai con sông là Maly (Sông Phan) và Sông La Di (Sông Dinh). Hoặc qua biểu dâng vua của Nguyễn Thông trong châu bản “Doanh điền biểu văn” năm 1877 cũng nêu rõ vị trí quan trọng của cửa tấn La Di trên đường vận chuyển sản vật rừng, lúa gạo phía Nam của tỉnh ra Phan Thiết. Do cách ghi chép theo phiên âm nên các văn bản hành chánh thời Pháp lúc là La Di, lúc là Lagi nhưng vẫn cho thấy địa danh La Gi đã có từ lâu trước khi dấu chân người Pháp đến đây. Địa danh La Gi trở thành thiêng liêng, máu thịt của một địa phương không thể nào được khai sinh từ một câu chuyện “hề” vô vị. Thêm nữa, đến bây giờ mà tác giả còn thắc mắc và lại khẳng định trước 1975 địa danh La Gi đều viết liền nhau (Lagi) mà nay lại viết rời ra. Là một địa danh hành chánh, dù tên gọi xuất xứ, nguồn gốc thế nào, nhưng khi được Việt hóa phải viết đúng với âm ngữ đó. Các văn tự, địa chí, chứng thư dưới chế độ cũ trước 1975 khá kỹ càng đều ghi La Gi rời ra, lại còn có cả gạch nối đối với những danh từ kép và nhất là cách viết về địa danh (La-Gi). Tất nhiên cũng có một vài văn bản, bài báo viết như tác giả làm căn cứ, kể cả bây giờ nhưng không phải phổ biến.

Ở bài “Ngày ấy, Phan Thiết” trang 213, tác giả Trần Hữu Ngư viết: “Đi cho đến hừng đông thì Camp Edépic đã hiện ra trên một động cát có doi đất chòi ra phía biển. Ngày đó dân làng tôi đâu biết chữ tây chữ u gì, nghe Cam Edépic thì đọc Căn a-sơ-bíc”. Rồi còn giải thích rất tự tin “Người ta bỏ chữ Ed- épic đằng sau mà chỉ đọc đơn giản là Căn”. Đó là tác giả viết về trại lính Pháp đóng trên phi trường Phan Thiết và cũng là một địa danh gắn với lịch sử chiến tranh nổi tiếng của Bình Thuận mà lại viết không chính xác và không hiểu nghĩa của từ đó là gì? Thực ra căn cứ này thường được viết tắt và gọi là Camp ESEPIC (tức gồm các chữ đầu của Ecole Superieure d’Education Physique de Indo-Chine (Trường cao đẳng Thể dục thể thao Đông Dương) và Camp có nghĩa là trại (lính), đồn (binh). Như vậy không biết tác giả dựa vào đâu để có “Camp Edépic” ? Cũng không thể đổ cho lỗi bản in vì được lặp lại nhiều lần. Không những chừng đó mà còn dễ gặp trong tập sách nhiều “lợn cợn” khác.

Ra đời được một tác phẩm phải có sự đầu tư bằng tất cả tâm huyết, niềm đam mê chưa đủ mà còn cần đến những yêu cầu cơ bản khác. Có như vậy mới  mong đem đến người đọc những điều thú vị, bổ ích. Nhưng nếu áp đặt bằng sự chủ quan, thiếu cân nhắc của mình, dù chỉ đôi bài thì chính tác giả tự đánh mất đi giá trị của tác phẩm.

PHAN CHÍNH
(http://www.baobinhthuan.com.vn/van-hoa/nhung-suy-dien-khong-can-thiet-trong-tap-troi-cao-dat-thap-chung-ta-thi%E2%80%A6-84240.html)