Monday, 1 September 2014

Hồi ức của một người thư ký (Đống Ngạc - Thanh Niên)


Thứ tư, 04 Tháng tư 2007, 23:19 GMT+7
  • Cỡ chữ

Hồi ức của một người thư ký


Hoi uc cua mot nguoi thu ky
Bí thư thứ nhất Lê Duẩn đọc điếu văn truy điệu tại lễ tang Bác Hồ - Ảnh: Tư liệu
Tháng 6.1997, trên chuyến xe từ Tuy Hòa về Nha Trang, Bí thư Tỉnh Đoàn Khánh Hòa khi đó là Phan Thông cho tôi biết: Ông già phúc hậu ngồi ngay trước tôi là cựu thư ký của Tổng bí thư Lê Duẩn.
Tên ông là Đống Ngạc, sinh ngày 2.4.1925, quê Tam Kỳ, Quảng Nam. Tham gia cách mạng năm 1945 tại Huế, ông đã chiến đấu tại chiến trường Khánh Hòa trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, sau làm công tác thanh niên rồi Bí thư Đoàn Thanh niên Cứu quốc khu V. Năm 1955, ông tập kết ra Bắc, từng đảm nhận chức vụ Chánh Văn phòng Trung ương Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam, Ủy viên Thường vụ Ban Chấp hành Trung ương Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam (khóa II). Trong cuộc trò chuyện với tôi, ở ông luôn toát lên vẻ điềm tĩnh, cách diễn tả mạch lạc, khúc chiết và khiêm tốn...
* Xin ông cho biết, ông đã đến làm việc với Tổng bí thư Lê Duẩn vào lúc nào?
- Ông Đống Ngạc: Tháng 2.1962, tôi đang công tác tại Trung ương Đoàn thì được Ban Tổ chức Trung ương Đảng gọi giao nhiệm vụ mới: Hoặc chuyển sang công tác ngoại giao hoặc làm thư ký cho anh Ba Duẩn. Nghĩ mình không đủ khả năng làm hai việc này, hơn nữa lại có thời theo dõi phong trào thanh niên nông thôn, tôi đề đạt nguyện vọng xin chuyển sang công tác nông nghiệp. Nhưng đại diện Ban Tổ chức Trung ương Đảng cho biết không có con đường thứ 3. Cuối cùng tôi về Văn phòng Trung ương Đảng, giúp việc cho anh Ba.
Hoi uc cua mot nguoi thu ky
Ông Đống Ngạc (phải) và tác giả
* Thưa ông, hẳn ở người thư ký của Tổng bí thư phải có những khả năng đặc biệt?
- Ông Đống Ngạc: Không, tôi không có khả năng gì đặc biệt. Có lẽ tôi được chọn vào công việc này là do đã qua công tác văn phòng, có biết chút ít việc tổng hợp tình hình, ghi chép, biên tập.
* Làm thư ký cho Tổng bí thư không đơn giản, thưa ông?
- Ông Đống Ngạc: Dĩ nhiên là không đơn giản. Thời chống Mỹ, cả nước tiến hành hai chiến lược cách mạng khác nhau ở hai miền. Nhiệm vụ đó rất mới mẻ, nặng nề. Giúp việc Tổng bí thư có nhiều thư ký như các anh Trần Quỳnh, Đậu Ngọc Xuân và một số đồng chí nữa... Công việc rất nhiều và khẩn trương. Nên lúc nào chúng tôi cũng làm việc không kể ngày nghỉ. Làm thư ký là phải luôn luôn sẵn sàng, phải phục vụ vô điều kiện.
* Thưa ông, có khi nào thư ký đề đạt ý kiến với Tổng bí thư về những vấn đề "quốc gia đại sự"?
- Ông Đống Ngạc: Mọi đường đi, nước bước của cách mạng Việt Nam thời chống Mỹ đều xuất phát từ những bộ óc thiên tài Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, từ trí tuệ tập thể của Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Là người giúp việc, chúng tôi chỉ làm nhiệm vụ thể hiện ý tưởng của anh Ba dưới dạng văn bản. Viết là công việc chiếm nhiều thời giờ và công sức nhất. Trừ các diễn văn, báo cáo, các tác phẩm ra đời nhân các dịp lễ lớn, phải được biên tập một cách hoàn chỉnh, còn các bài nói khác của anh Ba, thường chúng tôi chuẩn bị theo kiểu gạch đầu dòng, nêu lên những ý chính. Sau khi anh Ba nói, chúng tôi mới biên tập lại. Để thể hiện chính xác ý tưởng của anh Ba, thư ký phải nắm được quan điểm của anh trong mỗi vấn đề...
* Thưa ông, điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, do Bí thư thứ nhất Lê Duẩn đọc tại Lễ truy điệu Hồ Chủ tịch, từng làm xúc động hàng triệu trái tim đồng bào, chiến sĩ cả nước và bầu bạn năm châu. Vậy thư ký của Tổng bí thư có góp phần chấp bút áng văn bất hủ ấy?
- Ông Đống Ngạc: Tôi có tham gia chấp bút. Song điếu văn được viết và hoàn chỉnh theo sự chỉ dẫn của anh Ba và được Bộ Chính trị, Ban Bí thư góp ý kiến sửa chữa. Đó là sản phẩm trí tuệ của tập thể. Tôi nghĩ không nên nói về phần đóng góp của cá nhân.
* Điếu văn truy điệu Bác Hồ là một áng văn mang dấu ấn lịch sử. Việc ông tham gia chấp bút là một sự thật lịch sử, thiết nghĩ để cho mọi người biết về điều đó có gì là không nên, thưa ông?
- Ông Đống Ngạc (suy nghĩ hồi lâu): Viết điếu văn là việc quan trọng nhất trong các khâu chuẩn bị lễ tang Bác Hồ. Công việc đó đã được giao cho các cơ quan khác đảm trách. Tối 6.9.1969, khoảng 21 giờ 30, vừa đi họp Bộ Chính trị về nhà riêng, anh Ba cho gọi anh Đậu Ngọc Xuân và tôi lên phòng làm việc của anh. Đưa cho chúng tôi bản Di chúc của Bác Hồ và hai điếu văn dự thảo, anh bảo: "Hai bản này không được Bộ Chính trị thông qua. Hai chú giúp tôi chuẩn bị một điếu văn khác. Ngoài việc tôn vinh cuộc đời, sự nghiệp, công ơn trời biển của Bác, điếu văn cần nêu bật những tư tưởng lớn của Người để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta thấu suốt và tiếp tục phấn đấu biến thành hiện thực.
Bác nêu cao chân lý "Không có gì quý hơn độc lập, tự do", lãnh đạo nhân dân ta đấu tranh đến cùng chống chủ nghĩa thực dân, đế quốc vì giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà.
Bác gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, dìu dắt đồng bào ta phấn đấu vì dân giàu nước mạnh, vì ấm no hạnh phúc của mọi người.
Bác dày công xây đắp khối đại đoàn kết dân tộc, kêu gọi toàn dân thực hiện, coi đó là bí quyết thắng lợi của cách mạng nước ta.
Bác kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế cách mạng, cổ vũ nhân dân ta làm tròn nhiệm vụ dân tộc và nghĩa vụ quốc tế.
Bác là tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư để mọi người học tập, noi theo.
Lời lẽ cần phải trang trọng, sâu sắc, cô đọng. Các chú cố gắng làm xong trong đêm nay được thì tốt, vì ngày tổ chức truy điệu đã được ấn định, thời gian không còn nhiều".
Nhận nhiệm vụ anh Ba giao, chúng tôi rất lo vì công việc thật sự nặng nề, vượt quá sức mình. Song chúng tôi tự nhủ phải hết sức cố gắng để không phụ lòng tin cậy của anh Ba.
Anh Xuân và tôi xem kỹ Di chúc của Bác và hai bản thảo anh Ba vừa đưa, cùng nhau vạch một dàn bài và trao đổi về cách viết, nhằm làm sao diễn đạt được tốt nhất những điều anh Ba chỉ dẫn. Anh Xuân đề nghị tìm đọc mấy bài điếu văn nổi tiếng để tham khảo. Đó là điếu văn của F.Ăng-ghen đọc trước mộ Các Mác, điếu văn Xtalin đọc trong lễ truy điệu Lê-nin, điếu văn của Bác Hồ trong lễ tang cụ Hồ Tùng Mậu.
Dàn bài đã vạch, nội dung tư tưởng anh Ba chỉ ra đã rõ, song quá 12 giờ đêm, chúng tôi vẫn ngồi cắn bút, chưa viết được đoạn nào. Khoảng 1 giờ sáng, chẳng may anh Xuân bị cảm. Anh đã thức mấy đêm liền, nên mệt quá gục xuống bàn. Tôi bảo anh cứ nằm nghỉ, tôi sẽ cố viết, khi nào xong, sẽ gọi anh dậy để cùng nhau sửa sang, hoàn tất. Tôi tiếp tục công việc đến gần sáng thì tạm xong bản thảo. Xem lại, thấy còn một số chỗ viết chưa tốt, diễn đạt chưa sâu sắc ý của anh Ba, nhưng tôi chưa vội sửa. Tôi đẩy cửa bước ra sân. Vừa lúc đó, ở tầng một, anh Ba cũng đẩy cửa sổ phòng ngủ hỏi vọng xuống: "Chú Ngạc đó hả, xong chưa chú?". Tôi vội đáp: "Dạ xong rồi". Anh hỏi tiếp: "Chú thấy có được không?". Tôi đánh bạo trả lời: "Dạ, đã cố gắng thể hiện những ý anh chỉ dẫn, hy vọng là được ạ".
Anh Ba bảo tôi đem bản thảo lên đọc cho anh nghe. Lúc đó khoảng 5 giờ sáng ngày 7.9.1969. Nghe xong anh bảo: "Về cơ bản thế này là được. Song cần suy nghĩ thêm về sự cân đối giữa các đoạn nói về tư tưởng của Bác, về nội dung năm lời thề; cần rà soát các câu trích lời Bác cho thật chính xác; có một số từ ngữ chưa chuẩn, cần cân nhắc thêm. Cuối cùng phải kết thúc điếu văn bằng một trong những khẩu hiệu mà Ban Tuyên huấn Trung ương đã trình với Bộ Chính trị". Dừng lại giây lát, anh nói tiếp: "Nhưng thôi, chú thức suốt đêm, chắc là mệt lắm, hãy cứ để thế cho đánh máy, rồi đề nghị Văn phòng Trung ương mời các anh trong Bộ Chính trị, Ban Bí thư họp để cho ý kiến, sau đó sẽ sửa chữa một thể".
8 giờ sáng ngày 7.9, Bộ Chính trị và Ban Bí thư họp chung. Anh Xuân và tôi ngồi ở phòng ngoài, bắt đầu sửa những chỗ anh Ba đã cho ý kiến. Khoảng 11 giờ trưa, anh Tố Hữu và anh Hoàng Tùng từ phòng họp bước ra cho biết bản thảo điếu văn đã được Bộ Chính trị chấp nhận; rồi các anh kéo hai chúng tôi lên phòng họp trên gác để cùng nhau sửa chữa. Tất cả các nhận xét, gợi ý của các anh có mặt trong buổi họp đều được thu thập, đối chiếu, cân nhắc; từng ý, từng câu, từng đoạn trong bản thảo đều được xem xét, rà soát nhằm lựa chọn những lời hay, ý đẹp, những từ ngữ chuẩn xác, những cách diễn đạt trong sáng. Chúng tôi làm việc rất khẩn trương. Đến 13 giờ công việc tạm xong. Đó là lần sửa quan trọng nhất, nhưng chưa phải là lần cuối cùng. Sau khi nghe chúng tôi báo cáo kết quả sửa chữa lần thứ nhất, anh Ba đồng ý và dặn phải gửi bản sửa đó cho các anh Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Tố Hữu, Hoàng Tùng để các anh xem lại, cho ý kiến sửa chữa thêm cho thật chặt chẽ, hoàn hảo. Đồng thời anh chỉ thị phải gửi ngay bản sửa lần đầu cho Ban Đối ngoại để dịch cho kịp ra 5 thứ tiếng nước ngoài. Khoảng 20 giờ ngày 7.9, bài điếu văn mới được hoàn thiện sau bốn lần rà soát, sửa chữa tiếp.
Sáng ngày 8.9, chúng tôi trình anh Ba bản điếu văn chính thức, báo cáo với anh những chỗ thêm, bớt so với bản sửa lần đầu. Anh cầm bài điếu xem rồi nói: "Giọng của tôi, đồng bào ngoài Bắc nghe không rõ, tôi phải tập đọc trước mới được". Rồi anh ngồi trong phòng làm việc đọc to lên. Nhưng anh không ngăn được xúc động, có nhiều đoạn anh nghẹn lời, nước mắt chảy nhòa cả kính. Thấy anh Ba khóc nghẹn ngào, chúng tôi càng thấu hiểu tình cảm sâu nặng của anh đối với Bác Hồ. Mấy anh em chúng tôi có mặt hôm đó không ai cầm được nước mắt...
Xin ông nói thêm đôi điều về lời văn của bài điếu?
- Ông Đống Ngạc: Cuộc đời vĩ đại, công đức cao dày của Bác Hồ nhiều người Việt Nam đều biết. Vì thế, anh Xuân và tôi bàn nhau viết về thân thế, sự nghiệp của Bác, không nên diễn đạt dài dòng, nhất là phải tránh sáo mòn, công thức. Lời văn phải giản dị, súc tích, trong sáng, dễ hiểu, không dùng từ ngữ to tát nhưng phải nói được ý lớn. Tôi nghĩ rằng lời văn bài điếu đã đạt được yêu cầu đó. Bài điếu đã phản ánh được phần nào bản sắc dân tộc, có nhạc, có hồn, có sức truyền cảm, toát lên tấm lòng sâu thẳm, bao la của Bác Hồ với dân, với nước, đồng thời thể hiện được tình sâu nghĩa nặng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đối với Bác muôn vàn kính yêu.
* Gần 25 năm giúp việc cho Tổng bí thư Lê Duẩn, điều gì để lại trong ông ấn tượng sâu sắc nhất?
- Ông Đống Ngạc: Ấn tượng sâu sắc nhất đối với tôi là được thấy ở anh Ba một con người rất giản dị, nhân hậu, rất gần cuộc sống đời thường; một con người có bộ óc vĩ đại, kết hợp nhuần nhuyễn tình cảm cách mạng cháy bỏng với tri thức cách mạng sâu sắc; một nhà chiến lược kiệt xuất, có sự nhạy cảm đặc biệt về chính trị, có tư duy năng động, sáng tạo thể hiện nổi bật tinh thần độc lập tự chủ rất cao của Đảng ta. Kháng chiến chống Mỹ là một việc cực kỳ khó khăn. Có độc lập tự chủ, Đảng ta mới vượt qua được những sức ép của các bạn đồng minh, đồng thời giữ vững chính sách đoàn kết quốc tế đúng đắn, tranh thủ sự giúp đỡ nhiều nhất có thể được của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, của các lực lượng cách mạng và tiến bộ trên thế giới; nhờ đó tạo ra được sức mạnh tổng hợp cần và đủ để đánh thắng. Có độc lập tự chủ, ta mới dám chấp nhận cuộc đụng đầu lịch sử với Mỹ, đồng thời mới tìm ra cách đánh, cách thắng tên đế quốc siêu cường. Chúng ta đã biết mở đầu cuộc chiến một cách khôn khéo. Chúng ta đã điều khiển cuộc kháng chiến một cách chủ động, sáng tạo. Chúng ta đã kết thúc chiến tranh đúng thời cơ lịch sử, giành được thắng lợi hoàn toàn. Đó là một thắng lợi trọn vẹn, có lợi nhất cho cách mạng nước ta và cả cho cách mạng thế giới.
Sau Bác Hồ, anh Ba là người có công lớn nhất đối với sự nghiệp hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thực hiện thống nhất Tổ quốc...
* Câu hỏi cuối cùng: Ông có ý định viết hồi ký về những năm tháng làm thư ký cho Tổng bí thư Lê Duẩn không?
- Ông Đống Ngạc: Tôi chỉ là một người bình thường như nhiều người khác, nên tôi chưa nghĩ đến điều đó.
* Xin cảm ơn ông.
X.H
Việt Báo (Theo_Thanh_Nien)

Lời điếu làm rung động triệu triệu con tim (Nguyễn Đức Quý - Công An Nhân Dân)

Chủ Nhật, 09/08/2009 - 3:49 PM
Ông Đống Ngạc.
“Tôi không dám nghĩ rằng Bác Hồ đã mất và hình dung trước mặt là hình ảnh của Người. Người đã làm rạng rỡ dân tộc và non sông đất nước ta. Trong tôi dâng trào niềm tiếc thương và xúc động vô hạn. Nó đã giúp tôi có cảm xúc mạnh mẽ để viết và hoàn thành bản thảo”, ông Đống Ngạc, nguyên Thư ký giúp việc của Tổng Bí thư Lê Duẩn, người chấp bút Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam để đọc tại lễ truy điệu Hồ Chủ tịch, kể lại.
Tròn một phần tư thế kỷ là thư ký giúp việc cho Tổng Bí thư Lê Duẩn, trong quá trình phấn đấu công tác, ông được đề bạt là Phó Văn phòng Trung ương ĐCS Việt Nam và sau này giữ chức Phó Tổng biên tập Nhà Xuất bản Sự thật. Sau khi nghỉ hưu, ông tham gia biên tập nhiều đề tài tổng kết lịch sử rất quan trọng, trong đó có đề tài được đề nghị Giải thưởng Hồ Chí Minh. Ông chính là Đống Ngạc, nguyên Thư ký giúp việc của Tổng Bí thư Lê Duẩn.
Ông Đống Ngạc sinh năm 1925, tại xã Tam Đàn, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam, quê hương giàu truyền thống cách mạng. Năm 14 tuổi, ông vào học tại Trường Quốc học Huế. Học hết chương trình tú tài phần một, ông quyết định xếp bút nghiên đi theo cách mạng.
Tháng 9/1945, ông được tuyển vào Quân đội và biên chế về Đại đội 4, Chi đội do đồng chí Võ Quang Hồ chỉ huy (đồng chí Võ Quang Hồ sau này là Phó Cục trưởng Cục Tác chiến - Bộ Tổng Tham mưu - Quân đội nhân dân Việt Nam).
Tháng 10/1945, đơn vị ông tham gia đoàn quân Nam tiến, cùng quân và dân Khánh Hoà chống thực dân Pháp bảo vệ thành phố Nha Trang. Ông không may bị thương. Vì vết thương quá nặng nên ông được trở về quê hương.
Theo đề nghị của Ủy ban Việt minh xã, người thanh niên đất Quảng quyết tâm vượt lên thương tích nhận nhiệm vụ làm chính trị viên dân quân xã, đồng thời gia nhập Đoàn thanh niên cứu quốc. Công tác ở xã được nửa năm, ông được cử đi dự Đại hội Đoàn Thanh niên cứu quốc huyện Tam Kỳ và được bầu làm Bí thư Huyện đoàn. Và từ đó, làm công tác đoàn thanh niên, ông đã phấn đấu lên đến chức Thường vụ Trung ương đoàn, phụ trách công tác nông nghiệp.
Tháng 4/1962, ông Đống Ngạc được tổ chức phân công về công tác tại Văn phòng Trung ương Đảng, làm thư ký giúp việc cho đồng chí Lê Duẩn từ đó (ngày ấy đồng chí Lê Duẩn là Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam). Về kỷ niệm ngày đầu giúp việc đồng chí Lê Duẩn, ông Đống Ngạc kể lại:
"Được về giúp việc cho anh Ba (tên gọi thân mật của đồng chí Lê Duẩn) nhà lãnh đạo kiệt xuất, người chiến sĩ cộng sản kiên cường, người học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tôi rất vinh dự nhưng cũng rất lo lắng không hiểu có hoàn thành nhiệm vụ anh Ba giao cho hay không. Nhưng làm việc với anh Ba, tôi thấy anh là một con người giản dị, nhân hậu, rất gần gũi cuộc sống đời thường; một con người biết kết hợp nhuần nhuyễn tình cảm cách mạng cháy bỏng với tri thức cách mạng sâu sắc; một nhà chiến lược có sự nhạy cảm đặc biệt về chính trị, có tư duy năng động sáng tạo, thể hiện tinh thần độc lập tự chủ rất cao. Mặc dù bận trăm công ngàn việc, nhưng anh thường xuyên quan tâm động viên, hướng dẫn tôi rất cụ thể, tỉ mỉ về công việc của người thư ký giúp việc anh.
Hai mươi nhăm năm được sống và làm việc bên anh Ba, tôi có rất nhiều kỷ niệm với anh. Nhưng có lẽ kỷ niệm sâu sắc nhất là lần tôi được anh Ba giao nhiệm vụ chấp bút Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam để đọc tại lễ truy điệu Hồ Chủ tịch.
Những ngày cuối tháng 8/1969, tình hình sức khoẻ của Bác có chiều hướng xấu đi. Tập thể giáo sư, bác sỹ mang hết tinh thần trách nhiệm, nghị lực và tình cảm kính yêu đặc biệt đối với Bác để quyết thắng căn bệnh hiểm nghèo của Người. Trong những ngày ấy, anh Ba và các đồng chí trong Bộ Chính trị cũng vào thăm sức khoẻ của Bác. Sáng sớm ngày 2/9/1969, anh Ba vào thăm Bác rất sớm, ở lại bên giường Bác mãi đến trưa mới về nhà. Tôi linh cảm có điều gì rất hệ trọng đã xảy ra. Nghe tiếng còi xe, tôi ra cổng đón anh. Anh Ba bước xuống xe, mặt buồn rười rượi, đôi mắt đỏ hoe, tôi hiểu ngay rằng cái điều hệ trọng không ai mong muốn đã đến: Bác Hồ của chúng ta đã ra đi theo cụ Các Mác, cụ Lê Nin và các bậc đàn anh khác.
Mấy ngày hôm đó, vòm trời Hà Nội cũng như cả nước trĩu nặng một nỗi buồn, thiên nhiên như cũng đau nỗi đau của con người. Công tác chuẩn bị tang lễ Bác diễn ra hết sức dồn dập. Những người giúp việc anh Ba, nhất là bộ phận thư ký chúng tôi đều ứng trực cao độ. 9h tối 6/9/1969, vừa đi họp ở Bộ Chính trị về, anh Ba cho gọi tôi và anh Đậu Ngọc Xuân, trong tổ thư ký lên phòng làm việc của anh ở số 6 - Hoàng Diệu. Anh trầm ngâm đưa cho chúng tôi bản Di chúc của Bác Hồ (văn bản mà Bộ Chính trị quyết định công bố trong lễ truy điệu Hồ Chủ tịch), hai dự thảo điếu văn do bộ phận khác chấp bút (hai bản dự thảo này không được Bộ Chính trị thông qua) và giao nhiệm vụ:
 - Hai chú chuẩn bị giúp tôi bản điếu văn khác để đọc tại lễ truy điệu Bác.
Nghe đến đây tôi và anh Xuân nhận thức rất rõ rằng công việc được giao là một vinh dự rất lớn nhưng hết sức khó khăn, vượt quá sức mình. Chưa kịp định thần trước nhiệm vụ được giao thì anh Ba chỉ đạo: "Về cuộc đời và sự nghiệp của Bác Hồ đã ăn sâu vào tâm trí của mỗi người dân Việt Nam. Vì thế điếu văn vĩnh biệt Người không nên viết theo công thức. Phải làm sao thông qua điếu văn nêu bật được những tư tưởng lớn của Người để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta thấu suốt hơn nữa, lấy đó làm mục tiêu phấn đấu, quyết biến sự nghiệp của Người thành hiện thực.
Thứ nhất, Hồ Chủ tịch nêu cao chân lý: "Không có gì quý hơn độc lập tự do" lãnh đạo nhân dân ta đấu tranh đến cùng chống chủ nghĩa thực dân, đế quốc để hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Thứ hai, Hồ Chủ tịch gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, dìu dắt đồng bào ta phấn đấu vì dân giàu nước mạnh, vì ấm no hạnh phúc của mọi người. Thứ ba, Hồ Chủ tịch dày công xây đắp khối đại đoàn kết dân tộc, kêu gọi toàn dân thực hiện, coi đó là bí quyết thắng lợi của cách mạng nước ta. Thứ tư, Hồ Chủ tịch kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế cách mạng. Thứ năm, Hồ Chủ tịch là tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng cần kiệm liêm chính, chí công vô tư để mọi người học tập noi theo. Các chú chú ý đến văn phong, lời lẽ phải trang trọng, sâu sắc, cô đọng; văn chương phải có hồn và đi vào lòng người. Cố gắng làm xong trong đêm nay để kịp sáng mai Bộ Chính trị thông qua".
Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Quảng trường Ba Đình. Ảnh:T.H..
Sau khi nhận nhiệm vụ, chúng tôi hội ý và xây dựng đề cương khái quát. Quá 12h đêm, chúng tôi vẫn chưa viết được đoạn nào. Mấy hôm đó, chúng tôi đều thức để chuẩn bị phục vụ tang lễ Hồ Chủ tịch. Chắc vì quá mệt, nên anh Đậu Ngọc Xuân gục xuống bàn. Tôi dìu anh vào giường để anh nằm nghỉ và quay lại tiếp tục nghiên cứu để viết.
Lúc này, chỉ mình tôi ngồi đối diện trang giấy trắng. Tôi không dám nghĩ rằng Bác Hồ đã mất và hình dung trước mặt là hình ảnh của Người. Người là lãnh tụ có công lao trời biển và hy sinh cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng. Người đã làm rạng rỡ dân tộc và non sông đất nước ta. Nay Người đã ra đi! Dân tộc ta đứng trước một tổn thất, một đau thương lớn lao vô cùng. Trong tôi dâng trào niềm tiếc thương và xúc động vô hạn. Nó đã giúp tôi có cảm xúc mạnh mẽ để viết và hoàn thành bản thảo.
Sáng hôm sau, anh Ba dậy sớm hơn mọi ngày và gọi tôi cầm bản thảo lên đọc cho anh nghe. Nghe xong, anh chỉ thị:
- Về cơ bản là được, chú cần suy nghĩ thêm về đoạn nói về tư tưởng của Bác, nội dung 5 lời thề và cân nhắc thêm về từ ngữ.
Dừng lại nhìn tôi, chắc thấy sắc mặt tôi nhợt nhạt, đôi mắt thâm quầng vì thiếu ngủ mấy hôm triền miên, anh động viên:
 - Nhưng thôi, chú thức suốt đêm chắc là mệt lắm, hãy cứ để như thế cho đánh máy rồi lấy thêm ý kiến của các đồng chí trong Bộ Chính trị và Ban Bí thư, sau đó sửa chữa một thể.
Theo sự chỉ đạo của anh Ba, tôi đưa bản thảo sang bộ phận văn thư của Văn phòng Trung ương ở 1A Hùng Vương để đánh máy. Chị Vũ Thị Sinh, tổ trưởng tổ đánh máy đọc bản thảo một lần rồi vừa đánh máy vừa khóc, mọi ngày hai bàn tay như múa trên bàn phím mà hôm đó cứ lóng nga lóng ngóng. Tôi động viên chị trấn tĩnh để hoàn thành bản thảo cho kịp thời gian.
8h sáng 7/9/1969, Bộ Chính trị và Ban Bí thư họp để bàn một số công việc, trong đó có nội dung tham gia vào dự thảo điếu văn. Sau khi lấy ý kiến tham gia, tôi và anh Xuân tập trung chỉnh sửa rất khẩn trương và tích cực, đến quá trưa thì công việc tạm xong. Đó là lần sửa chữa quan trọng nhất nhưng chưa phải là lần cuối cùng.
Sau khi nghe chúng tôi báo cáo kết quả sửa chữa lần thứ nhất, anh Ba đồng ý và chỉ thị cho chúng tôi gửi điếu văn cho anh Trường Chinh, anh Phạm Văn Đồng, anh Tố Hữu, anh Hoàng Tùng… để các anh xem lại, góp ý kiến cho thật chặt chẽ và hoàn hảo. Đồng thời, gửi sang Ban Đối ngoại để kịp dịch ra năm thứ tiếng nước ngoài. Khoảng 8h tối 7/9, điếu văn đã hoàn thiện sau 4 lần rà soát, sửa chữa.
Sáng 8/9, chúng tôi trình anh Ba bản điếu văn chính thức. Anh xem và nói:
- Tôi nói giọng miền Trung, đồng bào ngoài Bắc khó nghe, tôi phải đọc trước mới được.
Đọc được mấy dòng, anh nghẹn lại, hai hàng lệ cứ lăn dài trên gò má làm nhoà cả kính. Nhìn anh Ba khóc, chúng tôi càng hiểu tình cảm của anh với Bác Hồ kính yêu và tất cả chúng tôi không ai cầm được nước mắt. Ngoài trời mưa tầm tã.
Sáng 9/9/1969, lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh được cử hành trọng thể và trang nghiêm với lòng thành kính và biết ơn vô hạn với Bác, trên 33 vạn đồng bào, chiến sĩ cả nước và hơn 40 đoàn đại biểu các nước trên thế giới kính viếng và dự lễ truy điệu Người.
Sau khi anh Ba nghẹn ngào đọc Di chúc của Bác và Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng: "Hồ Chủ tịch kính yêu của chúng ta không còn nữa! Tổn thất này vô cùng lớn lao! Đau thương này thật là vô hạn!... Dân tộc ta và Đảng ta mất đi một vị lãnh tụ thiên tài và một người thầy vĩ đại. Phong trào Cộng sản quốc tế, phong trào giải phóng dân tộc và cả loài người tiến bộ mất đi một chiến sỹ lỗi lạc, một người bạn chiến đấu kiên cường và thân thiết… Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, Người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta…" cả Quảng trường lặng đi rồi oà lên khóc. Các cháu thiếu nhi gục đầu vào lòng các bác lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước khóc nức nở.
Để thể hiện quyết tâm biến đau thương thành hành động cách mạng, sau mỗi lời thề trước anh linh của Bác, cả rừng cánh tay giơ cao cùng Ban Chấp hành Trung ương xin thề với Bác sẽ làm tròn sứ mệnh mà Người đã tin cậy giao phó, nguyện đi theo con đường mà Người đã vạch ra..."
Nguyễn Đức Quý

Tuesday, 26 August 2014

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung Quốc trong những năm 1959-1969 (Tô Vĩnh - Văn Hóa Nghệ An)


Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung Quốc trong những năm 1959-1969

  •   TÔ VĨNH
  • Thứ tư, 01 Tháng 6 2011 00:14

KHI nói đến Hồ Chủ tịch trong mối quan hệ với đảng, chính phủ Trung Quốc (TQ) - hầu như ai cũng nhắc đến hai câu thơMối tình hữu nghị Việt – Hoa/ Vừa là đồng chí vừa là anh em; qua đó, gián tiếp và mặc nhiên khẳng định rằng đối với Bác Hồ, quan hệ Việt – Trung là một điều gì đó đã được mặc định, đương nhiên và, trong suy nghĩ và Tư tưởng Hồ Chí Minh (HCM), đó là sự thiêng liêng không cần phải bàn cãi?!
Có thể nói đây là một mối quan hệ đặc biệt và tế nhị cần phải nghiên cứu một cách kỹ càng. Bài viết nhỏ này trên cơ sở cứ liệu công khai đã có muốn đưa ra một phác thảo nghiên cứu rất nhỏ nhằm làm sáng tỏ những quan niệm - ứng xử - thái độ đúng và đủ của HCM đối với TQ trong một khoảng thời gian không dài nhưng hết sức quan trọng của Người – 10 năm cuối đời, tức là từ 1/10/1959 đến tháng 9/1969.
1. Điều đặc biệt và điềukỳ lạ là suốt 10 năm rất, rất quan trọng đó của sự nghiệp Cách mạng của nhân dân ta, HCM chỉmột lần duy nhất viết bài kỷ niệm ngày quốc khánh của nước CHNDTH – ngày 28/9/1959, nhân chuyến thăm TQ đồng thời kỷ niệm 10 năm ngày thành lập nước Cộng hòa công nông lớn nhất thế giới. Kể từ đó, cho đến khi từ biệt thế giới này, Chủ tịch HCM không bao giờ gửi thư hay điện mừng để chúc mừng quốc khánh nước CHND Trung Hoa.
2. Suốt 10 năm trời, Chủ tịch HCM chỉ một lần bàn về cách mạng TQ trong một bài viết nhân kỷ niệm 40 năm ngày thành lập Đảng CSTQ, tháng 7/1961. ở bài viết này (báo Nhân Dân, 1/7/1961, số 2.658), Hồ Chủ tịch cho biết Người đã hai lần đứng trong hàng ngũ Đảng CSTQ. Một lần trong những năm 1924-1927, với chức danh là “tuyên truyền đối ngoại”, viết bài về Đảng CSTQ cho một bài báo bằng chữ Anh và, một lần, vừa là binh nhì trong Bát lộ quân, vừa là Bí thư chi bộ của một đơn vị ở Hành Dương (HCM, TT, T.10, tr. 365-368. NXB CTQG, H. 2002). Có một bài viết nữa về TQ nhưng đó lại là bài Trả lời Thư của các đảng phái dân chủ, các nhân sĩ dân chủ không đảng phái và Hội liên hiệp công thương TQ (T.11, tr.385).
3. Một điểm rất cần được nhấn mạnh là trong bài viết duy nhất về cách mạng TQ, Bác Hồ đã thẳng thắn ca ngợi chuyến thăm Mỹ của Tổng Bí thư ĐCS Liên Xô N. Khruchov: “cuộc đi thăm nước Mỹ của đồng chí Khơrútsốp (in liền trong nguyên bản, T.9, tr.511-512, sic) càng làm cho nhân loại tiến bộ nức lòng phấn khởi và tăng thêm tin tưởng vào sự nghiệp bảo vệ hòa bình thế giới”. Hầu như ai cũng biết TQ luôn gọi Khruchov là "xét lại" và Liên Xô là "đế quốc xã hội". Thế nhưng, Hồ Chủ tịch vẫn thẳng thắn ca ngợi mối quan hệ Xô - Mỹ - nghĩa là không hề ngần ngại khi đụng chạm vào điều “khó nói” của các nhà lãnh đạo Trung Hoa!
Từ những dẫn liệu trên đây, chúng tôi nghĩ rằng rất nên đặt ra một số câu hỏi để làm rõ hơn về Chủ tịch HCM - đặc biệt, đây là thời điểm mà toàn Đảng toàn dân đang ra sức học tập và làm theo Tư tưởng, đạo đức HCM. Thứ nhất, không thể nói suốt 10 năm trời của cuộc cách mạng đầy nước sôi lửa bỏng của nhân dân ta mà Hồ Chủ tịch lại “quên” không gửi điện chúc mừng quốc khánh nước CHNDTH. Bằng chứng rất rõ là ở chỗ, ngay như những nước Mali hay Ghinê xa xôi, Hồ Chủ tịch vẫn gửi Điện mừng nhân dịp quốc khánh – ngày 1/10/1960 và  2/10/1963(!) (T.10, tr.212 và T.11, tr.143)...
Như vậy, nếu chúng ta đối chiếu với 4 bài viết về TQ trong 3 năm 1922-1924 so với một bài trong 10 năm thì sẽ thấy - hiểu khá rõ rằng, trong quan điểm của HCM, có không ít những điều Người (tuy không nói rõ ra) không đồng tình với cung cách hành xử của các nhà lãnh đạo Bắc Kinh. Cách nhìn mẫn tiệp và sắc sâu ấy là điều mà chúng ta cần nghiên cứu và học tập. Không ngẫu nhiên mà những năm 1959-1969 là những năm TQ đang ủng hộ rất nhiều về cả tinh thần và vật chất cho cuộc kháng chiến của nhân dân ta mà Chủ tịch HCM đã “quên” việc gửi thư cảm ơn hay điện mừng nhân dịp quốc khánh? Cách “quên” của thiên tài HCM buộc chúng ta phải suy nghĩ và, buộc tất cả những nhà nghiên cứu quan tâm tới vấn đề phải nhìn nhận một cách khách quan hơn, đúng đắn hơn. Những dẫn chứng trên phải chăng là những minh chứng về những điều thiêng liêng nhất về trí tuệ và tình cảm của một Nhân cách Vĩ đại - một Tầm nhìn Sắc sâu của một người con đáng kính của Đất Mẹ Việt Nam!

Wednesday, 20 August 2014

Tướng Nguyễn Chí Thanh đã trích dẫn những nguồn nào?





Bài nói với cán bộ đảng. quân, dân chính, Liên khu IV, năm 1957 của đại tướng Nguyễn Chí Thanh (báo Quân Đội Nhân Dân, số 316, ngày 8 tháng 2 năm 1957) ở báo điện tử của Đảng Cộng Sản Việt Nam (

http://123.30.190.43:8080/tiengviet/tulieuvankien/tulieuvedang/details.asp?topic=168&subtopic=463&leader_topic=981&id=BT30121333265) có năm chỗ trích dẫn các tác giả kinh điển của chủ nghĩa Mác Lê-nin:


Lênin đã nêu lên một số điểm định nghĩa quan trọng về chuyên chính vô sản như sau:

"Chuyên chính vô sản không có nghĩa là đấu tranh giai cấp đã chấm dứt mà là sự tiếp tục cuộc đấu tranh ấy dưới hình thức mới. Đó là cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản thắng lợi đã nắm được chính quyền chống lại giai cấp tư sản đã bị đánh bại, nhưng chưa bị tiêu diệt, chưa thôi chống cự mà còn chống cự hăng hơn. Chuyên chính vô sản là hình thức đặc biệt của liên minh giai cấp giữa giai cấp vô sản, đội tiền phong của những người lao động với đông đảo những tầng lớp lao động không vô sản (tiểu tư sản, tiểu chủ, nông dân, trí thức, v.v...)"1.

1. V.I. Lênin: "Tựa viết cho bản in bài diễn văn Người ta lừa gạt nhân dân bằng những khẩu hiệu tự do và bình đẳng", Toàn tập, tập 29, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1968, tr. 425-426.



Như vậy, ta thấy vấn đề chuyên chính vô sản là một vấn đề khá toàn diện. Dựa theo nguyên lý chủ nghĩa Lênin, Stalin đã phân tích ba mặt của chuyên chính vô sản như sau:

"a) Dùng chính quyền vô sản để đè bẹp bọn bóc lột, bảo vệ đất nước, củng cố những mối liên hệ với giai cấp vô sản các nước khác, phát triển cách mạng và làm cho nó thắng lợi trong tất cả các nước.

b) Dùng chính quyền vô sản làm cho quần chúng lao động bị bóc lột hoàn toàn tách khỏi giai cấp tư sản, củng cố sự liên minh của giai cấp vô sản với những quần chúng ấy, lôi cuốn họ vào công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm cho giai cấp vô sản chấp chính nắm được quyền lãnh đạo những quần chúng ấy.

c) Dùng chính quyền vô sản tổ chức chế độ xã hội chủ nghĩa, tiêu diệt các giai cấp, bước sang xã hội không giai cấp...”! 2

2. J. Stalin: Những vấn đề chủ nghĩa Lênin, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1959, tr. 173 – 174.



“Chuyên chính vô sản không phải có nghĩa là bạo lực, mặc dù không thể có chuyên chính mà không dùng bạo lực. Nó còn có nghĩa là một tổ chức lao động cao hơn tổ chức trước kia"3.

3. V.I.Lênin: "Đại hội toàn Nga lần thứ I của ngành giáo dục ngoài nhà trường", Toàn tập, tập 29, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1968, tr. 416.



“Chuyên chính vô sản không phải chỉ là bạo lực đối với bọn bóc lột, và cũng không phải chủ yếu là bạo lực. Cơ sơ kinh tế của bạo lực cách mạng đó, cái bảo đảm cho sức sống và sự thắng lợi của nó chính là việc giai cấp vô sản đưa ra được và thực hiện được kiểu tổ chức xã hội về lao động cao hơn so với chủ nghĩa tư bản. Đấy là điểm chủ yếu của vấn đề. Do đó mà có lực lượng, mà bảo đảm được thắng lợi hoàn toàn và nhất định của chủ nghĩa cộng sản”4.

4. V.I. Lênin: "Sáng kiến vĩ đại", Tuyển tập, quyển II, phần II, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1960, tr. 205.



“Thực chất chủ yếu của nền chuyên chính đó là ở tính tổ chức và tính kỷ luật của đội quân tiên tiến của những người lao động và của đội tiền phong của họ và của người lãnh đạo duy nhất của họ là giai cấp vô sản"5.

5. V.I.Lênin: "Chào mừng công nhân Hunggari", Tuyển tập, quyển II, phần II, Nxb, Sự thật, Hà Nội, 1960, tr. 191.
Tất cả đều là xuất bản phẩm từ năm 1959 đến 1968. Nếu như văn bản này thể hiện đúng phát biểu của tướng Thanh thì câu hỏi là ông đã dựa vào nguồn tài liệu nào.

Tuesday, 19 August 2014

Công an là của nhân dân (Chính Nhân - An Ninh Thế Giới)


Công an là của nhân dân

alt
Cán bộ Lớp Trung cấp Công an rất phấn khởi, vinh dự được Bác Hồ đến thăm và chụp ảnh kỷ niệm (1950). Ảnh: Tư liệu.

Thực sự lúc sinh thời, Bác Hồ không nói và viết nhiều về lực lượng Công an nhân dân. Thế nhưng, trong không nhiều những câu chữ Bác dành riêng cho chúng ta lại ẩn chứa rất nhiều những suy tư và tâm huyết về một lực lượng phải gánh vác những “công việc âm thầm nhưng rất quan trọng” (chữ Bác đã dùng trong bài nói chuyện tại Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 10, tháng 1/1956).
Đặc biệt 6 điều Bác Hồ dạy lực lượng Công an nhân dân (CAND) trong suốt mấy chục năm qua đã luôn là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của lực lượng Công an nhân dân, giúp lực lượng CAND hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội trong mọi thời kỳ cách mạng, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước. Các thế hệ cán bộ chiến sĩ CAND đã luôn luôn tâm niệm rằng, học tập, thực hiện 6 điều Bác Hồ dạy đồng nghĩa với sự thực hiện nhiệm vụ và lý tưởng của mình.

Cần phải thấy rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh ngay từ “cái thuở ban đầu lưu luyến ấy” của cách mạng mùa thu năm 1945  đã luôn nhấn mạnh tới tính công bộc của bộ máy nhà nước đối với nhân dân. Là người từng trải, anh minh và mẫn tiệp, đã không chỉ một lần phải “biết mùi hun khói”, Bác Hồ hiểu rất rõ những cảm giác mà các bộ máy chính quyền trong một xã hội có tình trạng người bóc lột người gây nên trong tâm trí dân chúng nên ngay sau Cách mạng tháng Tám 1945, Bác đã rất dày công để tuyên truyền, giáo dục, cổ xuý một hình mẫu chính quyền mới, chính quyền nhân dân. Tháng 10/1945, với bút danh Chiến Thắng, Bác viết: “Non hai tháng trước đây, trước cuộc khởi nghĩa 19-8-1945, nói tới hai chữ Chính phủ người ta nghĩ ngay tới một bọn đầu đảng cướp nguy hiểm, xảo quyệt. Trái lại, ai ai đối với Chính phủ nhân dân hiện nay cũng đều có một cảm tình thân mật xen lẫn với một niềm tôn kính sâu xa: Chính phủ đối với ta như người “anh cả” trong gia đình, một đồng chí phụ trách một địa phương, người đứng mũi chịu sào ta có thể vững lòng trông cậy và gửi số mệnh vào. Người xưa nói: quan là công bộc của dân, ta cũng có thể nói: Chính phủ là công bộc của dân vậy... Chính phủ nhân dân bao giờ cũng phải đặt quyền lợi của dân lên trên hết thảy. Việc gì có lợi cho dân thì làm. Việc gì có hại cho dân phải tránh”.

Cũng với cách hình dung như thế, Bác Hồ muốn lực lượng CAND phải đáp ứng đủ các tiêu chuẩn của những công bộc của dân trong một lĩnh vực hoạt động hết sức đặc thù liên quan tới sự an nguy của cả xã hội, cả chế độ. Đọc xong số nội san Bạn dân của Công an khu XII năm 1948, Bác đã nhắc nhở đồng chí Hoàng Mai (lúc đó là Giám đốc Công an khu VII) rằng: “Trên báo, cần thường xuyên làm cho anh chị em công an nhận rõ công an của ta là công an nhân dân, vì dân mà phục vụ và dựa vào nhân dân mà làm việc”. Theo Bác, công an ta luôn luôn phải “lấy lòng” dân (hiểu theo nghĩa tốt đẹp nhất của từ này) để  được dân giúp đỡ và có được dân giúp đỡ thì công an ta mới có thể làm việc có hiệu quả. Cách lập luận của Bác rất giản dị nhưng đầy thuyết phục: “Bác lấy một ví dụ: Công an ta có bao nhiêu người? Dù có vài ba nghìn hay năm bảy vạn đi nữa thì lực lượng ấy vẫn còn ít lắm bên cạnh lực lượng nhân dân. Năm vạn người thì chỉ có 5 vạn cặp mắt, 5 vạn đôi bàn tay. Phải làm sao có hàng triệu đôi bàn tay, hàng chục triệu cặp mắt và đôi tai mới được. Muốn như vậy, phải dựa vào dân, không được xa rời dân. Nếu không thế thì sẽ thất bại...” (trích bài nói tại Trường Công an trung cấp khóa 2,  năm 1951). Nhìn lại thực tế hôm nay, càng thấy những lời Bác dạy thực là chí lý! Nếu không được lòng dân và không được nhân dân thực sự giúp đỡ, tin tưởng, coi như con em của mình thì bao nhiêu cố gắng nắm bắt địa bàn cũng dễ trở thành công cốc. Việc nước rất nhiều (lại vẫn câu chữ của Bác), việc giữ gìn an ninh trật tự xã hội cũng rất nhiều, chỉ mình lực lượng Công an đảm trách thôi thì không đủ. Phải làm sao để các tầng lớp nhân dân cũng sát cánh cùng lực lượng CAND, chung lưng đấu cật trong sự nghiệp bảo vệ an ninh Tổ quốc và trật tự an toàn xã hội. Công an phải luôn gần gụi với người dân, phải học cách ứng xử  với nhân dân sao cho lễ phép, chân thành. Còn nhớ, trong bài nói chuyện với hội nghị tổng kết công tác cảnh vệ tháng 2/1962, Bác đã nhắc nhở: “Bác nói một điểm nữa là thái độ đối với nhân dân. Cũng vì mục đích bảo vệ Bác nên các chú không muốn để đồng bào đến gần, cho nên đã xô đẩy đồng bào. Thái độ thế là không tốt. Đồng bào và các cháu nhi đồng muốn đến gần Bác. Nhưng các chú thì lại không muốn. Nó có mâu thuẫn, nhưng phải làm thế nào? Mình là dân chủ. Bác cũng như các chú, đều nói là phục vụ nhân dân. Cho nên phải khéo tổ chức, nếu không khéo tổ chức thì xô đẩy cũng không được; cho nên, phải làm thế nào để vừa bảo vệ được Bác, vừa không xô đẩy đồng bào”. Người Cha già của dân tộc vừa thông tuệ cổ kim vừa nắm rất rõ và tinh tế cả những chi tiết dù nhỏ nhặt nhất của đời thường.

Có đức mới vực được nghề

Làm nghề nào muốn tốt thì cũng phải tinh thông mọi ngón chuyên môn. Làm người công an nhân dân nếu muốn hoàn thành thực tốt  chức phận của mình thì không chỉ giỏi nghiệp vụ mà còn phải là thấm nhuần những tiêu chí đạo đức cách mạng. Đây cũng là một trong những điều mà Bác Hồ từng nhấn mạnh khi viết hoặc nói với lực lượng CAND. Bác phân biệt rất rạch ròi sự khác biệt giữa bộ máy công an của chính quyền cách mạng với cái gọi là ngành công an trong những xã hội còn áp bức, bất công. Bác nói (cũng tại Trường Công an trung cấp khoá 2): “Công an đế quốc là nanh vuốt của đế quốc để hà hiếp áp bức đa số nhân dân. Chắc các cô chú cũng nhớ chúng nó là bọn đầu trâu mặt ngựa. CAND phải là kiểu mẫu, phải là người chuyên trách thi hành, chính sách phương châm của Đảng và Chính phủ cho tốt. CAND phải thực sự phục vụ nhân dân...”. Mà muốn thực sự phục vụ nhân dân thì không thể không là những người có đạo đức cách mạng thực sự. Chính vì thế nên Bác Hồ  đã đặt lên trên hết mọi sự yếu tố đạo đức trong hoạt động nghiệp vụ của người công an cách mạng. Cũng trong bức thư gửi đồng chí Hoàng Mai đã nhắc ở trên, Bác nhấn mạnh: “Trên tờ báo phải luôn luôn nhắc nhở anh em rèn luyện tư cách đạo đức”. Theo Bác, tư cách người công an cách mạng là phải đáp ứng được đủ những yêu cầu sau:

“Đối với tự mình, phải cần, kiệm, liêm chính.

Đối với đồng sự, phải thân ái giúp đỡ.

Đối với Chính phủ, phải tuyệt đối trung thành.

Đối với nhân dân, phải kính trọng lễ phép.

Đối với công việc, phải tận tuỵ.

Đối với địch, phải cương quyết, khôn khéo”.


Và Bác dạy, muốn giữ gìn, bồi đắp đạo đức cho mình,  những người chiến sĩ CAND hơn ai hết cần phải biết “phê bình nhau”. Ngay trong những ngày đầu của chính quyền dân chủ cộng hòa, Bác cũng đã hiểu quá rõ là những người công bộc mang sắc phục công an nếu không tự xác định được đúng đắn vai trò và nhiệm vụ của mình thì rất dễ mắc phải sai lầm. Tôn vinh sự tử tế nhưng Bác cũng rất nghiêm khắc với những thói hư tật xấu và Bác đã thẳng thắn phê bình: “Công an nhân dân phải thực sự phục vụ nhân dân, nhưng hiện nay các cô các chú đã làm tròn nhiệm vụ ấy chưa? Chưa. Tuy đã có nhiều người tận tâm, cố gắng nhưng lẻ tẻ vài nơi nhân dân còn chê trách đấy!”. Bác nói: “Trong nội bộ, công an cũng phải phê bình nhau. Đối với người không sửa được thì phải tẩy trừ ra khỏi ngành kẻo để lại thì con sâu làm rầu nồi canh. Phải làm thế nào cho được lòng dân, phải thực sự giúp đỡ dân trong công việc chứ không phải là lối ngoại giao qua loa. Có như thế thì người dân mới tích cực trở lại giúp đỡ công an”.

Kẻ thù dai dẳng - chủ nghĩa cá nhân

Trong bài nói tại Trường công an nhân dân ngày 28/1/1958,  Bác Hồ đã gióng lên hồi chuông báo động rằng, người chiến sĩ công an phải thực sự chú trọng tới việc chống chủ nghĩa cá nhân, tức là chống thói so bì đãi ngộ, muốn nghỉ ngơi hưởng thụ, an nhàn... Bác cũng nhắc nhở trong bài nói chuyện tại lớp chỉnh huấn khóa II của Bộ Công an (ngày 16/5/1959): “Chủ nghĩa cá nhân  không phải chống lại một lần là hết được. Trong lớp này, các cô các chú kiểm thảo thành khẩn là điều tốt, tiến bộ. Nhưng không phải kiểm thảo xong là gột rửa hết chủ nghĩa cá nhân. Ví như rửa mặt thì phải rửa hàng ngày. Vì vậy, kiểm thảo ở đây không phải là xong, là đủ mà còn phải tiếp tục luôn luôn phê bình, tự phê bình, kiểm thảo trong mọi việc”.

Nhìn vào hôm nay, càng thấy những lời Bác dạy năm xưa vẫn có tính thời sự nóng bỏng. Cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân thực sự vẫn đang còn tiếp diễn. Người chiến sĩ công an không theo thuyết khổ hạnh nhưng ham muốn có một nếp sống không thích ứng với thực trạng đất nước luôn dễ là “ma đưa lối quỷ dẫn đường” đối với những công bộc có vai trò rất quan trọng trong bộ máy chính quyền hành pháp như lực lượng CAND. Điều này hiển nhiên hơn ai hết tất cả những chiến sĩ Công an như chúng ta đều nhớ

   Chính Nhân   Theo ANTG

Saturday, 2 August 2014

SỬA SAI ĐẤU TRANH CHÍNH TRỊ VÀ PHÁT HIỆN SAI LẦM CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT (Hoàng Nhật Tân - Talawas)


HOÀNG NHẬT TÂN – TRÍCH HỒI KÝ “THIÊN THU ĐỊNH LUẬN”: CHƯƠNG VI “SỬA SAI ĐẤU TRANH CHÍNH TRỊ VÀ PHÁT HIỆN SAI LẦM CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT”

25/09/2010 | 3:11 sáng | 4 phản hồi
Tác giả: talawas
talawas – Trong chương VI của cuốn hồi ký tự xuất bản mang tên Thiên thu định luận (Phả ký gia tộc) mà chúng tôi giới thiệu dưới đây, tác giả Hoàng Nhật Tân thuật lại việc cha mình, cựu Ủy viên Bộ Chính trị Hoàng Văn Hoan (1905-1991), phát hiện sai lầm Cải cách Ruộng đất giai đoạn 1953-1956. Do những bất đồng trong nội bộ ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam, đặc biệt là do mâu thuẫn với Lê Duẩn, ông Hoàng Văn Hoan đã bỏ trốn sang Trung Quốc giữa thời điểm quan hệ Việt – Trung căng thẳng cao độ năm 1979 và bị Việt Nam kết án tử hình vắng mặt. Trong cuốn hồi ký Giọt nước trong biển cả viết tại Bắc Kinh năm 1986, ông nhận định: “Lê Dun là mt k âm mưu đt li ích cá nhân và bè cánh lên trên li ích ca dân tc, đc bit là nhng năm trước và sau khi H Ch tch mt, tôi được biết nhng hot đng xu xa nguy him ca y, nhưvic choán quyn Đng, vic xuyên tc lch s, vic đng viên toàn b lc lượng chng Trung Quc và xâm chiếm Cam-pu-chia, là nhng vic phn ch nghĩa Mác – Lê-nin, phn cách mng, phn li ích ca dân tc, ca T quc.”
__________
Trong cuộc đời cha tôi có nhiều sự kiện tỏ ra ông độc lập suy nghĩ nên thường hay phát hiện được sai lầm. Chương trên đã kể nhiều sự kiện, những phải nói rằng sự kiện nổi bật nhất và có ý nghĩa trọng đại hơn cả là việc ông đi sửa sai “đấu tranh chính trị” đầu năm 1953 và phát hiện sai lầm Cải cách Ruộng đất từ 1953 đến 1956.
Ngày ấy cha tôi là một Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt nam và uỷ viên Thường vụ Quốc hội, đang làm Đại sứ nước ta ở Trung Quốc, kiêm Đại sứ ở Triều Tiên và ở Mông Cổ. Ông thường từ Bắc Kinh về nước tham gia các cuộc hội nghị Trung ương Đảng và họp Quốc hội để xây dựng Cương lĩnh Ruộng đất của Đảng và Luật Ruộng đất của Quốc hội cũng như kiểm điểm công tác định kỳ của Trung ương.
Về phần tôi, từ cuối năm 1952 cho đến đầu năm 1957 là một cán bộ chủ chốt của cuộc vận động giảm tô và Cải cách Ruộng đất. Cuối năm 1952 đến tháng 7-1954 là thư ký của đồng chí Hoàng Quốc Việt, uỷ viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, phụ trách công tác Mặt trận và dân vận, chuyên trách chỉ đạo chung phong trào phát động quần chúng thực hiện giảm tô và Cải cách Ruộng đất. Từ tháng 7-1954 đến cuối năm 1956 là Trưởng ban Tuyên huấn của Uỷ ban Cải cách Ruộng đất Trung ương.
Do hoàn cảnh như trên mà tôi hiểu khá kỹ một phần hoạt động của cha tôi trong thời gian này, mỗi lần ông về nước.
*
Tháng 12-1952, tôi có một chuyến đi từ Liên khu IV ra Việt Bắc để phục vụ Hội nghị Nông vận và Dân vận Toàn quốc họp tại khu rừng tỉnh Tuyên Quang. Mấy ngày ở làng quê Quỳnh Đôi, tôi chứng kiến cuộc “đấu tranh chính trị” của quần chúng địa phương. Ở làng tôi, người ta bắt mấy chục người thuộc từng lớp giáo viên, hào lý, công chức cũ bị tình nghi là “phản động”, đưa ra đình làng cho nhân dân truy khảo bắt phải nhận tội. Hình thức truy khảo rất tàn bạo, như trói, treo, đánh bằng gậy, đốt mười đầu ngón tay v.v… khiến những người bị tra tấn phải nhận tội và khai ra “tổ chức phản động”, mặc dầu chưa có chứng cớ gì xác thực để buộc tội họ là phản động.
Từ Quỳnh Đôi ra tới địa điểm hội nghị, tôi lập tức tìm gặp đồng chí Hoàng Quốc Việt báo cáo ngay những điều tai nghe mắt thấy như trên:
“Thưa anh”, tôi nói, “Đây là một hiện tượng khác thường. Tôi thấy Bác Hồ nêu cao chính sách khoan hồng và Đại đoàn kết, thế mà ở quê tôi, nghe nói đây là sáng kiến, chủ trương từ đâu trên Tỉnh uỷ hay Khu uỷ đưa xuống. Vậy đề nghị anh báo cáo với Bác để kịp thời xem xét.”
Đồng chí Hoàng Quốc Việt vỗ vai tôi thân mật:
“Tân thấy hiện tượng như thế mà báo cáo ngay với trung ương là rất tốt. Nhưng anh cứ yên trí, việc này tối hôm qua anh Ca là cán bộ Cục Thuế ở Hà Tĩnh ra đây họp đã báo cáo với trung ương và Bác Hồ đã phái anh Hoan cầm đầu một đoàn cán bộ vào ngay khu IV kiểm tra và xử lý vấn đề.”
Nhiều đồng chí cán bộ Liên khu IV hồi ấy kể lại rằng phong trào truy bức, đấu tố chính trị nói trên khởi đầu từ Diễn Châu (Nghệ An). Cán bộ tình nghi một số phần tử phản động, liền bắt họ ra trước hội nghị dân làng để cật vấn. Nhân dân căm thù phản động, đánh đập họ, truy khảo bắt khai, thế là lòi ra cả một tổ chức phản động rất lớn, tay sai của thực dân xâm lược Pháp, ngấm ngầm phá hoại kháng chiến đã từ lâu, và tổ chức này đã lan rộng ra nhiều làng xã.
Một đồng chí Uỷ viên Khu uỷ kiêm Bí thư Tỉnh uỷ Nghệ An được tin, cho rằng đây là một sáng kiến rất hay của quần chúng, liền chỉ thị cho các tỉnh truyền bá kinh nghiệm này, mở rộng nhanh chóng thành một phong trào quần chúng đấu tranh chính trị truy nã phản động, từ Nghệ An ra tới Thanh Hoá, vào cả Hà Tĩnh.
Hàng trăm người bị tra khảo rất tàn bạo. Có người đã chết. Các chị nói: Ngày ấy, nếu Bác không kịp thời phái anh Hoan vào ngăn lại thì phong trào “đấu tranh chính trị” tai hại nay còn làm chết bao nhiêu người nữa.
*
Anh Sơn Tùng là nhà văn đã sưu tầm được nhiều sử liệu và hồi ký, nhắc lại với tôi rằng: Các lão đồng chí tham dự cuộc họp sửa sai đấu tranh chính trị ở Khu IV hồi ấy còn nhớ anh Hoan chỉ vào đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ Nghệ An (là Khu uỷ viên) mà nói như mắng: “Là một người cộng sản mà anh đang tâm ngồi xem quần chúng treo ngược người ta, thui đốt người ta, thử hỏi lương tâm cộng sản của anh ở đâu? Chủ trương của Khu uỷ, tỉnh uỷ phát động đấu tranh chính trị như thế chẳng những là một sai lầm mà còn là một tội lỗi với dân, với Đảng, gây tác hại vô cùng nghiêm trọng và lâu dài. Mấy đời sau, con cháu những người bị tra tấn kia sẽ còn nguyền rủa ai là người đã gây ra tang tóc, thương tật cho ông cha họ!”
Sau này tôi được xem bản báo cáo của cha tôi trình lên Bác khi đã làm xong đợt sửa sai “đấu tranh chính trị”. Ông phê phán chủ trương của Khu uỷ IV và Tỉnh uỷ Nghệ An là hồ đồ, mù quáng, tạo thành một sai lầm phổ biến và rất nghiêm trọng, tác hại sâu sắc đến uy tín của Đảng, xâm phạm lợi ích quần chúng, phá hoại khối đoàn kết kháng chiến. Trong quá trình sửa sai, ông đã xuống một vài xã, huyện điều tra cụ thể, rồi họp Khu uỷ, Tỉnh uỷ, chỉ thị phải chấm dứt ngay phong trào đấu tố chính trị ấy, thừa nhận chủ trương sai lầm và tự phê bình nghiêm túc với các cấp dưới. Một mặt tuyên bố xoá bỏ các hồ sơ báo cáo về tổ chức phản động do truy bức mà tạo nên. Ông không chủ trương thi hành kỷ luật tất cả cán bộ đã chấp hành nghị quyết sai lầm kia, chỉ đề nghị Trung ương thi hành kỷ luật một đồng chí Khu uỷ viên đã mù quáng ra chỉ thị. Mặt khác ông đề nghị tuyên dương một số đồng chí ở các xa, huyện đã dám phản đối, hoặc ngăn cản hành động truy bức, nhục hình.
Cho đến nay một số người từng bị truy bức còn giữ thương tật, họ thường nhắc lại việc cha tôi sửa sai. Nhờ có sự sáng suốt của Bác Hồ và công tác sửa sai của ông mà bao nhiêu người đã thoát nạn.
*
Sau vụ “đấu tranh chính trị” ở khu IV xong, cha tôi trở sang Trung Quốc, lần đó cha con chúng tôi không có dịp gặp nhau ở Việt Bắc.
Về phần tôi, sau Hội nghị Nông vận và Dân vận Toàn quốc tháng 2-1953, tôi được đi theo đồng chí Hoàng Quốc Việt đến Thái Nguyên tổ chức Đoàn uỷ thí điểm giảm tô. Tôi được làm thư ký chung của Đoàn uỷ, theo dõi các đội thí điểm giảm tô trong 25 xã thuộc ba tỉnh Thái Nguyên, Phú Thọ và Thanh Hoá. Sau đó tiếp tục theo dõi công tác phát động quần chúng giảm tô đợt 1, mở rộng trong 163 xã.
Khi hai đợt giảm tô đầu tiên đã kết thúc, Trung ương Đảng họp hội nghị lần thứ 5 vào tháng 11-1953, đánh giá kết quả giảm tô rất tốt: phát động được quần chúng nâng cao ý thức đấu tranh giai cấp, bước đầu hạ uy thế địa chủ, gây một luồng phấn khởi rất sâu rộng trong toàn dân, nhất là quân đội, những người nông dân mặc áo lính, càng hăng hái chiến đấu quên mình trên các chiến trường. Trung ương Đảng quyết định mở rộng nhanh chóng phong trào phát động quần chúng giảm tô và tiến hành một đợt thí điểm cải cách ruộng đất.
Chuyện từ giảm tô lên cải cách ruộng đất là một chủ trương lớn, có ý nghĩa lịch sử, nên Trung ương quyết định họp Hội nghị toàn quốc lần thứ nhất của Đảng (từ 14 đến 23-11-1953) để thông qua đường lối chung. Tiếp đến Hội nghị Uỷ ban Mặt trận Liên Việt toàn quốc (26 đến 28-11-1953) nhiệt liệt hoan nghênh thắng lợi giảm tô và hoàn toàn tán thành chủ trương của Đảng về cải cách ruộng đất. Sau đó Quốc hội (Khoá I) họp lần thứ ba (1 đến 4-12-1953) nhất trí thông qua Luật ruộng đất và ngày 19-12-1953 Hồ Chủ tịch ký Sắc lệnh ban hành Luật Ruộng đất.
Trong dịp này cha tôi có mặt ở Việt Bắc khá lâu. Tôi lại được hân hạnh tham gia Hội nghị toàn quốc của Đảng với tư cách là cán bộ của Trung ương theo dõi diễn biến của hội nghị qua các buổi thảo luận của các đoàn đại biểu các địa phương. Trong hoàn cảnh đó cha con chúng tôi thường gặp nhau.
Một buổi chiều, khi Hội nghị toàn quốc đã kết thúc, cha tôi tìm gặp tôi sau bữa cơm chiều, cùng tôi đi dạo trên đường rừng, quanh khu vực hội nghị. Ông hỏi tôi tin tức về gia đình ở trong quê Nghệ An, rồi hỏi về công tác của tôi từ ngày được điều động về nước.
Tôi kể:
“Khi con từ Bangkok về tới Việt Bắc cuối năm 1951 được gặp đồng chí Phạm Văn Đồng báo cáo tình hình công tác của Đảng bộ ở Thái Lan. Sau đó anh Trần Hiệu là Trưởng ban Tình báo gặp con, dự định xin con sang làm công tác tình báo Đông Nam Á. Nhưng Trung ương cho con dự một lớp chỉnh huấn ở trường Nguyễn Ái Quốc khoá 2, rồi điều động về Văn phòng Trung ương Đảng làm thư ký cho đồng chí Hoàng Quốc Việt, theo dõi công tác Mặt trận và Dân vận. Cuối năm 1952, con đã giúp anh Việt ấy thảo chương trình công tác 1953. Hồi ấy đã có thư của Đoàn Cố vấn Trung Quốc hỏi Trung ương đối với giai cấp địa chủ thì có đánh đổ toàn bộ không và đối với việc phát động quần chúng thì có ‘phóng tay’ hay không. Trung ương đã quyết tâm ‘phóng tay’ phát động quần chúng và đánh đổ toàn bộ giai cấp địa chủ một cách có sách lược phân hoá.” Cha tôi hỏi:
“Qua hai đợt phóng tay phát động quần chúng giảm tô vừa rồi Tân có nhận xét gì không?”
“Con thấy các đội công tác, đội nào đi sâu thăm nghèo hỏi khổ và phóng tay phát động quần chúng thì ở đấy giảm tô, thoái tô nhanh chóng. Nhưng địa chủ cũng phản ứng rất mạnh, thầy ạ.”
Ông nhìn tôi có vẻ thăm dò, rồi nói với một giọng, tin cậy, thân mật:
“Tân dự Hội nghị toàn quốc vừa rồi thì thấy đấy: đường lối Cải cách Ruộng đất của Trung ương rất toàn diện, rất mềm dẻo, đánh vào giai cấp địa chủ có phân biệt các loại, chiếu cố địa chủ kháng chiến, chú trọng đoàn kết nông thôn, tránh gây chấn động, làm mất sự đồng tình của các nhân sĩ, trí thức, anh em khối đoàn kết kháng chiến toàn dân. Những lần này thầy về nước, đi từ biên giới đến an toàn khu, có tham quan mấy cuộc đấu tố địa chủ ở các xã giảm tô, thì thấy cách làm như hiện nay là không đúng.”
“Không đúng thế nào ạ?” Tôi hỏi trong thái độ ngạc nhiên.
“Mình thấy các đội giảm tô đem địa chủ ra cho quần chúng đấu tố, xỉ vả như thế thì sẽ gây ra oán thù không cần thiết. Mặt khác mình thấy trên đường nhan nhản khẩu hiệu ‘Dựa vào bần cố nông, đoàn kết với trung nông, trung lập phú nông, đánh đổ giai cấp địa chủ’ cũng rất đáng suy nghĩ. Đây là một khẩu hiệu sách lược, cần phổ biến sâu sắc, thấm nhuần nội bộ để trong hành động thực tế của cán bộ có phương pháp đúng mức, chứ giương lên công khai khắp các nẻo đường như thế thì không thể đoàn kết nông thôn, thậm chí có thể gây chia rẽ trong nội bộ nông dân. Khẩu hiệu ‘trung lập phú nông’ nay đã được Trung ương sửa lại là ‘Liên hiệp phú nông’ cốt để lôi kéo phú nông, nhưng cách phát động quần chúng như thế này thì chưa chắc đã liên hiệp được phú nông đâu.”
Ngừng một lát, có ý xem thái độ của tôi, ông nói tiếp:
“Những điều mình nói với Tân hôm nay mình đã phát biểu trong cuộc họp Trung ương rồi, nhưng chỉ là ý kiến trong nội bộ thôi. Tân là một cán bộ của Trung ương, nên biết, nhưng cũng là biết vậy chớ không được tuỳ tiện phát biểu rộng rãi.”
Nghe cha tôi nói, tôi hơi ngạc nhiên. Qua hai đợt giảm tô, tôi là một cán bộ chủ chốt của Đoàn uỷ do đồng chí Hoàng Quốc Việt phụ trách, tôi chỉ được nghe những lời ca ngợi cái hay cái tốt của phong trào và sự sáng suốt của Đảng, lòng biết ơn của nhân dân với Bác, với Đảng đã đem lại quyền lợi thiết thân. Đây là lần đầu tiên tôi được nghe một ý kiến phê bình từ miệng cha tôi, một đồng chí uỷ viên Trung ương Đảng. Tôi chỉ im lặng.
Thật ra, trong vấn đề này tôi đã một lần vấp váp hồi chỉnh huấn ở Trường Nguyễn Ái Quốc đầu năm 1952.
Ngày ấy Trung ương đang cân nhắc và chuẩn bị có sự chuyển hướng chính sách đối với giai cấp địa chủ. Việc giáo dục về lập trường giai cấp trong các lớp chỉnh huấn được nhấn mạnh, đi đôi với việc khuyến khích “tự do tư tưởng”, dám nghĩ, dám nói (để Trung ương nắm vững tư tưởng cán bộ). Nhà trường tổ chức một buổi thảo luận chung tại hội trường, cho học viên tranh luận chuyên đề “Có nên chuyên chính với giai cấp địa chủ hay không”. Nhiều đồng chí đã thấu hiểu dự định của Trung ương đặt vấn đề lập trường giai cấp thành cơ sở nghiên cứu vấn đề này. Riêng tôi, mới ở Thái Lan về nước, chưa nhạy bén cảm thụ điều dự kiến của Trung ương, nên đã mạnh dạn phát biểu:
“Từ ngày Cách mạng tháng Tám 1945 đến nay, Bác Hồ đã nhiều lần tuyên bố chính sách đoàn kết, không phân biệt giai cấp để mưu cầu giải phóng dân tộc. Hồi đầu kháng chiến, nhiều nhân sĩ hỏi Bác ‘Có đoàn kết với địa chủ không và có đoàn kết lâu dài không?’ thì Bác đã trả lời dứt khoát: Chân thành đoàn kết, đoàn kết lâu dài cho đến ngay kháng chiến thành công. Bây giờ Đảng ta muốn nâng cao đời sống nông dân, giảm nhẹ bóc lột, thì nên vận động địa chủ vì lòng yêu nước, vì nghĩa đồng bào mà nhả bớt quyền lợi kinh tế, khiến nông dân đỡ khổ, hăng hái đánh giặc, vì số đông bộ đội là con cái nông dân. Chỉ có những địa chủ đã là Việt gian, phản động thì mới không nghĩ tới đồng bào, không chịu giảm bớt bóc lột mà thôi. Nếu ta tuyên bố chuyên chính với giai cấp địa chủ thì hoá ra Bác Hồ làm sai lời hứa. Như vậy có ảnh hưởng tới lòng tin của nhân dân đối với Đảng, nhất là các nhân sĩ yêu nước đã đi theo kháng chiến mà nghe nói giai cấp của họ là đối tượng chuyên chính của ta thì họ sẽ nghĩ như thế nào về Bác, về Đảng Lao động Việt Nam.”
Sau buổi thảo luận, một số đồng chí trong lớp gặp tôi tỏ lời hoan nghênh bài phát biểu của tôi là có tình có lý. Nhưng ngày hôm sau tôi đã bị phê bình đích danh trên tờ báo tường dán ở trước hội trường. Đó là bài của anh Hà Nghệ, thư ký đồng chí Trường Chinh, từng viết một số bài hay trên báo Nhân dân, nay được đi học chỉnh huấn Trường Nguyễn Ái Quốc. Tác giả bài bích báo phê phán: “Đồng chí Hoàng Nhật Tân không nắm vững lập trường giai cấp, không hiểu sự cần thiết phải chuyển hướng đường lối giai cấp của Đảng… còn thông cảm với giai cấp bóc lột hơn là thông cảm với quần chúng cơ bản của cách mạng.”
Từ đó tôi dè dặt hơn trong phát biểu ý kiến, và tự nhắn nhủ mình phải quan tâm rèn luyện lập trường giai cấp của một chiến sĩ cộng sản. Qua thực tế của phong trào giảm tô tôi càng thấm nhuần cách giải thích của các đồng chí cố vấn Trung Quốc về âm mưu của giai cấp địa chủ, về những người liên quan với địa chủ thường vì tình cảm bà con họ hàng mà làm trái lợi ích giai cấp của bần cố nông. Các đồng chí cố vấn giải thích cho cán bộ tham gia giảm tô rằng: Một người chiến sĩ cách mạng chân chính thường phải trải qua ba của ải: Cửa ải kháng chiến để rèn luyện tinh thần yêu nước, cửa ải phát động quần chúng để nâng cao lập trường giai cấp và cửa ải chỉnh huấn để từ sửa chữa sai lầm, tỏ lòng trung thành với Đảng.
Trong thời gian các đợt giảm tô và Cải cách Ruộng đất đầu tiên, tôi hoàn toàn tin tưởng những điều đã học được ở trường chỉnh huấn và ở các lớp giảng của cố vấn, cho nên mỗi khi nghĩ đến những lời cha tôi phê bình việc phát động quần chúng giảm tô thì tôi lại thấy hơi lo, một mối lo mơ hồ, không rõ rệt. Tôi không thể nói điều lo lắng này ra với cha tôi cũng như với bất cứ ai cả.
*
Ngay sau khi Luật Ruộng đất được công bố, đồng chí Hoàng Quốc Việt đích thân chỉ đạo đợt thí điểm Cải cách Ruộng đất ở 6 xã thuộc huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên, vào đầu năm 1954.
Tháng 5-1954, phát động quần chúng giảm tô đã làm xong ở 631 xã thuộc các tỉnh vùng tự do từ Việt Bắc đến Thanh Nghệ Tĩnh. Đợt thí điểm Cải cách Ruộng đất cũng hoàn thành. Đợt I Cải cách Ruộng đất bắt đầu tiến hành trên 47 xã thuộc tỉnh Thái Nguyên và 6 xã thuộc Thanh Hoá. Bản thân tôi được đồng chí Hoàng Quốc Việt cho nắm một đội Cải cách Ruộng đất xuống xã Túc Duyên (huyện Đại Từ, Thái Nguyên) làm thí điểm.
Đi vào thực tế, là đội trưởng, tôi cũng bắt rễ, xâu chuỗi như mọi anh em đội viên, xét duyệt danh sách địa chủ ở các xóm do các tổ báo cáo lên. Tôi thấy thật khó mà trong vòng một thời gian ngắn nắm bắt được tâm trạng của 20 anh em đội viên của mình, khó mà nắm rõ thực hư trong mọi trường hợp nông dân tố khổ địa chủ. Tôi chỉ làm được một việc là nhắc anh em lắng nghe cả trung bần cố nông để giữ được khách quan, đừng để xảy ra nhục hình khi đấu tố. Những đến cuối đợt thì được đồng chí đội phó báo cáo là ở xóm của đồng chí phụ trách có một địa chủ tự sát. Thẩm tra lại các yếu tố thì chúng tôi xác định đây là trường hợp bị quy oan địa chủ. Phát hiện sai lầm này cũng vừa lúc Đoàn uỷ triệu tập các đội ở Thái Nguyên về địa điểm tổng kết đợt thí điểm Cải cách Ruộng đất. Tôi uỷ thác đồng chí đội phó ở lại Thái Nguyên tiến hành sửa sai ngay cho gia đình bị quy oan, rồi đưa toàn đội về Thái Nguyên tham gia Hội nghị Tổng kết.
Qua thực tế đợt I Cải cách Ruộng đất, tôi bắt đầu nghĩ rằng ý kiến cha mình phê bình cách làm phát động quần chúng là có phần đúng: Một số cán bộ trong đội Cải cách Ruộng đất muốn gây thành tích, cố moi ra cho được nhiều địa chủ. Khi động viên nông dân kê khai ruộng đất thì chẳng những cán bộ trong đội, mà ngay cả đồng chí cố vấn Trung Quốc xuống xã cũng có khuynh hướng ép nông dân khai tăng số ruộng đất họ mới được chia để có thành tích tuyên truyền. Nhân dân trong xã Cải cách Ruộng đất từ trung nông trở lên có nhiều thắc mắc mà không ai dám nói vì sợ bị vạ lây.
Trong Hội nghị Tổng kết, tôi được chỉ định ra báo cáo điển hình ở hội trường, nói lên một số nhận thức của mình là phải chống hữu khuynh đồng thời hết sức tránh tả khuynh. Cần lắng nghe cho thấu ý kiến của nhân dân, cả bần cố và trung nông trong khi phân định thành phần giai cấp trong xã cũng như khi lãnh đạo nông dân bình nghị để kê khai ruộng đất. Tôi thay mặt toàn đội Túc Duyên tự phê bình nghiêm khắc về việc quy oan địa chủ dẫn tới vụ tự sát thảm thương. Có thể nói nhận thức của tôi tuy có chuyển biến bước đâu, nhưng còn rất hời hợt.
Đợt I Cải cách Ruộng đất chấm dứt đúng vào lúc Hội nghị Genève kết thúc thắng lợi. Hiệp định đình chiến ở Việt Nam, Campuchia và Lào được ký kết. Hoà bình được lập lại, quân xâm lược Pháp sắp phải rút khỏi miền Bắc Việt Nam.
Từ tháng 7-1954, Đoàn uỷ Cải cách Ruộng đất ở Thái Nguyên do đồng chí Hoàng Quốc Việt phụ trách, bàn giao nhiệm vụ lại cho khu uỷ Việt Bắc và Đoàn uỷ Cải cách Ruộng đất ở Thanh Hoá do đồng chí Hồ Viết Thắng phụ trách bàn giao lại cho Khu uỷ IV. Các đồng chí lãnh đạo cùng một số cán bộ chủ chốt trong đó có tôi trở về thủ đô Hà Nội. Trung ương Đảng quyết định thành lập Uỷ ban Cải cách Ruộng đất Trung ương gồm các đồng chí lãnh đạo của Đảng và đại biểu của Mặt trận Liên Việt (sau đổi là Mặt trận Tổ quốc), đại biểu các đoàn thể quần chúng và một số nhân sĩ yêu nước tiêu biểu là uỷ viên Uỷ ban Cải cách Ruộng đất Trung ương do đồng chí Trường Chinh làm chủ tịch, hai uỷ viên Bộ Chính trị là Hoàng Quốc Việt và Lê Văn Lương trực tiếp phụ trách, đồng chí Hồ Viết Thắng, uỷ viên Trung ương Đảng là uỷ viên thường trực, chỉ đạo công tác hàng ngày. Bản thân tôi được giao nhiệm vụ mới: Trưởng ban Tuyên huấn của Uỷ ban Cải cách Ruộng đất trung ương, dưới quyền chỉ đạo của đồng chí Hồ Viết Thắng.
Trong hoàn cảnh hoà bình, tháng 9-1954, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ra nghị quyết mới, coi Cải cách Ruộng đất là điều kiện quyết định để phục hồi kinh tế sau chiến tranh, nhưng cần phải điều chính chính sách cho thích họp với tình hình mới, không trái với Hiệp định Genève. Dựa theo tinh thần nghị quyết Bộ Chính trị ,Uỷ ban Cải cách Ruộng đất Trung ương ra quyết định “Đẩy mạnh phát động quần chúng thực hiện Cải cách Ruộng đất”, trong đó sửa đổi và bổ sung một số quy định cụ thể như: Rút khẩu hiệu “Đánh đổ Việt gian phản động” (Vì Hiệp định Genève quy định hai bên không được trả thù người đã từng cộng tác với đối phương) thay bằng khẩu hiệu “Đánh đổ địa chủ cường hào gian ác”, thu hẹp diện đấu tranh, sửa đổi phương pháp đấu tranh, tăng cường tác dụng của Toà án Nhân dân; không vạch linh mục là “Địa chủ Nhà Chung”, mở rộng diện trưng mua, cho địa chủ hiến ruộng với điều kiện rộng rãi hơn, chiếu cố những nhà công thương nghiệp kiêm địa chủ v.v…
Tuy chủ trương, chính sách vạch ra mềm dẻo như vậy, nhưng trong thực hành, các đội giảm tô và Cải cách Ruộng đất vẫn làm như cữ. Diện đả kích ngày càng mở rộng. Toà án Nhân dân do các đội Cải cách Ruộng đất lập nên xử bắn nhiều người bị quy oan là địa chủ cường hào gian ác. Từ Uỷ ban Cải cách Ruộng đất Trung ương truyền xuống một quy định miệng là mỗi xã phải có từ 3 đến 5 phần trăm số hộ là địa chủ thì mới tránh khỏi “lọt lưới”. Hầu hết cán bộ lãnh đạo xã trước ngày phát động quần chúng giảm tô và Cải cách Ruộng đất bị gạt ra khỏi công cuộc vận động quần chúng. Không ít người bị quy thành phần địa chủ, hoặc liên quan với địa chủ, tay sai địa chủ, thậm chí bị quy là phản động, ngấm ngầm làm tay sai cho Pháp trong thời địa phương bị chiếm đóng.
Tháng 3-1955, Trung ương Đảng họp hội nghị lần thứ 7. Cha tôi từ Bắc Kinh về Hà Nội tham gia hội nghị. Ông đã thẳng thắn nói lên những ý kiến phê phán của mình đối với cách thực hiện Cải cách Ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức. Nhưng ông đã được đả thông rằng tuy có những hiện tượng “tả khuynh”, nhưng đó là tất yếu trong cuộc đấu tranh giai cấp “long trời lở đất” ở nông thôn hàng ngàn năm dưới ách phong kiến, đứng trước sức phản ứng quyết liệt của giai cấp địa chủ và bọn tay sai của địch còn cài lại ở miền Bắc. Tuy được đả thông, ông vẫn kiên trì phản ánh dư luận nhân dân không đồng tinh với những sai lầm của các đội cải cách. Ông dẫn chứng báo cáo của đồng chí Hoàng Quốc Việt là trong hai đợt Cải cách Ruộng đất đầu tiên có 500 địa chủ lọt lưới và 400 địa chủ bị quy sai; và lập luận rằng 500 người lọt lưới thì có thể quy lại, nhưng 400 người bị quy sai, đã bị đấu tố, xỉ vả thì sửa như thế nào cho người ta, làm sao xoá được sự oán trách của họ và con cháu để hàn gắn sự đoàn kết trong thôn xóm.
Ý kiến phê bình của cha tôi không được chấp nhận, nhưng dầu sao sau Hội nghị Trung ương lần thứ bảy, trong các bài phát biểu của các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Hồ Viết Thắng đã nêu lên tinh thần “chống hữu, phòng tả”.
Tháng 8-1955 lại họp Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng, cũng có mặt cha tôi. Lần này ông vẫn kiên trì phê phán tả khuynh, yêu cầu phải sửa chữa ngay “tả” khuynh, chứ không phải chỉ “đề phòng tả khuynh”, vì trong thực tế “tả” khuynh đã rất nghiêm trọng. Tai hội nghị này ý kiến phê phán của ông đã mang tính chất như là đối lập với các đồng chí lãnh đạo Cải cách Ruộng đất, và dường như ông đang bị cô lập. Ở cơ quan Uỷ ban Cải cách Ruộng đất một số cán bộ thân cận với lãnh đạo đã thì thào với nhau rằng: Có lẽ chuyến này anh Hoàng Văn Hoan sẽ phải ra khỏi Trung ương và anh Hồ Viết Thắng sẽ được đề bạt vào Bộ Chính trị.
Phần tôi, tuy thầm hiểu rằng cha mình có phần đúng, nhưng mặt khác tôi vẫn còn phân vân: Phải chăng cha mình chưa thật sát với hoàn cảnh trong nước, nên chưa thật vui với niềm vui giải phóng của nông dân được có ruộng cày, thoát ách tô tức của địa chủ. Phải chăng ông đã thông cảm nhiều với nỗi oan ức của các người bị đấu tố, bị khai trừ mà ít thông cảm với nỗi khổ nhục của nông dân trước cách mạng, vì ông cũng chỉ là xuất thân gia đình nhà Nho thôi mà. Phải chăng ông chưa được trải qua cửa ải “đấu tranh giai cấp” nên về phương diện lập trường giai cấp, ông chưa thật sâu sắc như lập trường yêu nước?
Sau nhiều ngày đêm phân vân, suy nghĩ, đắn đo, cuối tháng 10-1955 tôi viết một bức thư dài 4 trang đánh máy gửi sang Bắc Kinh để bàn giải với cha mình bằng lời lẽ rất lễ độ nhưng cũng khá thẳng thắn.
Ý chính trong thư:
“Thầy ạ, mấy năm nay Trung ương Đảng đã nhận thấy mình có hữu khuynh, nên mới kiên quyết phóng tay phát động quần chúng đấu tranh. Tuy con chưa thấy Trung ương ra quyết định tự phê bình hữu khuynh, và các uỷ viên Trung ương Đảng không phải tham gia chỉnh huấn, nhưng tất cả cán bộ cao cấp đều đã kiểm thảo về khuyết điểm trước đây không am hiểu tình hình thực tế ở nông thôn, đánh giá quá thấp tính chất phản động của giai cấp địa chủ. Đối với thầy, con thấy từ sau Hội nghị Trung ương lần thứ 7, thầy thường than thở với con về những sai lầm nguy hại trong Cải cách Ruộng đất. Thầy nói ‘chỉ sợ Trung ương nghe phản ánh chưa đủ nên chưa thấy hết tầm nghiêm trọng của vấn đề, chưa thấy hết sự lo sợ và bất mãn trong nhân dân, chưa đánh giá được hậu quả của tình hình.’ Thầy còn nói ‘Có khi nghe 90 người mà chưa thấy ra sự thực, trái lại nghe một câu nói, xem một thái độ mà có thể phán ra đầu mối của sự thật.’ Cách lập luận của thầy có phần đúng, nhưng chỉ sợ thầy chưa xuất phát từ chỗ ‘nghe ai’, ‘giải quyết vấn đề cho ai’. Cải cách Ruộng đất là vấn đề của hàng triệu quần chúng lao động từng bị đói cơm rách áo. Chỉ e thầy chưa cảm thông sâu sắc nỗi khổ của họ trước cách mạng và điều phấn khởi của họ ngày nay.”
Cuối thư tôi viết: “Trên đây là những lời chân thành của đứa con một của thầy mẹ, và cũng là lời bàn giải thẳng thắn của một đồng chí cách mạng, mong góp phần suy nghĩ với thầy”.
Phải nói rằng hồi ấy tôi tuy đã nhận rõ tác hại của “tả” khuynh, và đã từng phát biểu trong hội nghị cán bộ Cải cách Ruộng đất là cần “chống tả khuynh” đi đôi với chống hữu khuynh. Nhưng trong hệ thống tư tưởng tôi đã thấm sâu quan điểm đấu tranh giai cấp qua các luận văn của đồng chí Mao Trạch Đông như “Mâu thuẫn luận”, “Thực tiễn luận”, nhất là tác phẩm “Bàn về cuộc nổi dậy của nông dân Hồ Nam”… Ngày ấy Đảng ta đặt cụ Mao lên hàng lãnh tụ mẫu mực của cách mạng thế giới, đã ghi vào Điều lệ Đảng: “Lấy học thuyết Mác, Ăng-ghen, Lenin, Stalin và tư tưởng Mao Trạch Đông kết hợp với thực tế cách mạng Việt Nam làm nền tảng tư tưởng của Đảng và kim chỉ nam cho tất cả mọi hành động”. Tôi tự nhủ không nên vì tình cảm cha con mà không nói thật, nói thẳng những ý kiến phê bình với người cha thân yêu của mình.
*
Bức thư của tôi gửi sang Bắc Kinh không được trở lại, đến tháng 9, tháng 10-1956 thì tôi bắt đầu hiểu rõ điều ngây thơ của mình và sự đúng đắn, sáng suốt của cha tôi.
Ngày ấy Cải cách Ruộng đất đợt 4 đã kết thúc từ tháng 12-1955. Trên toàn miền Bắc đã có 1585 xã nông dân được chia ruộng đất. Báo chí và đài phát thanh tuyên truyền rầm rộ về những thắng lợi huy hoàng của sự nghiệp chống đế quốc cũng như chống phong kiến. Tiếp đó, đợt 5 Cải cách Ruộng đất được phát động từ đầu tháng 1-1956. Trên ba vạn cán bộ lấy từ tất cả các cơ quan Đảng, chính, quân, dân ở các cấp được huấn luyện hàng tháng trước khi toả xuống 1720 xã thuộc 16 tỉnh, trong đó 13 tỉnh là vùng mới giải phóng.
Khi đợt 5 sắp kết thúc thì cơ quan Chủ tịch phủ cũng như Uỷ ban Thường trực Quốc hội và Văn phòng Trung ương Đảng nhận được hàng ngàn lá đơn kêu oan.
Hồ Chủ tịch gọi đồng chí Hồ Viết Thắng sang nói cho biết tình hình nghiêm trọng này và yêu cầu Thường trực Uỷ ban Cải cách Ruộng đất chọn 4 cán bộ kiểm tra có kinh nghiệm về tình tình trung thực đưa sang Phủ Chủ tịch để Bác trực tiếp giao nhiệm vụ và hướng dẫn cách làm việc để đi thẩm tra một số địa phương có nhiều dân khiếu nại. Bác dặn dò bốn anh phải hết sức khách quan, nghe đầy đủ sự thật và trở về trực tiếp báo cáo với Bác, không giấu diếm sự thật.
Bốn anh cán bộ này, tôi còn nhớ tên hai anh. Một là anh Thúc Khu IV và hai là anh Mỹ Hảo, người Hưng Yên, đều trình độ thường vụ Huyện uỷ, tham gia Cải cách Ruộng đất từ những đợt đầu và làm cán bộ kiểm tra từ đợt 5 Cải cách Ruộng đất. Họ đều xuất thân nông dân, bản chất trung thực và khiêm tốn.
Khoảng giữa tháng 8-1956, bốn anh làm xong nhiệm vụ, báo cáo kết quả kiểm tra với Bác Hồ rồi trở lại cơ quan Uỷ ban Cải cách Ruộng đất Trung ương kể lại cho một số cán bộ chủ chốt của Uỷ ban nghe.
Các anh nói đại ý là: Lâu nay các Đoàn uỷ Cải cách Ruộng đất báo cáo lên Trung ương chỉ nói nhiều về thành tích đấu tranh mà che giấu nhiều sự thật. Lần này chúng tôi đến tận nơi có vấn đề oan khuất, nghe các lão đảng viên báo cáo thực tình, vào tận nhà tù đang giam các địa chủ cường hào và “cán bộ cũ” bị qui là phản động, đến tận nhà những người đã tự sát, nghe vợ con họ trình bầy.
Ở Khu IV, các lão đồng chí yêu cầu Hồ Chủ tịch hãy xem xét lại người lãnh đạo Khu uỷ IV đã dám tuyên bố rằng: “Qua Cải cách Ruộng đất mới thấy phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh là một phong trào giả tạo, do đế quốc Pháp dựng nên”.
Một đảng viên thời 1930-1931 đắp lên mình lá cờ đỏ búa liềm trước khi viết thư tuyệt mệnh, vạch tội Cải cách Ruộng đất rồi cắn lưỡi tự sát. Ở Liên khu III, trong nhà tù đã có mấy cán bộ cũ tự sát. Khi chúng tôi cùng với cán bộ Khu uỷ vào phòng giam thẩm tra, có lão cán bộ đã chửi thẳng vào mặt chúng tôi: Chính chúng mày mới là bọn phản Đảng, hại dân, hại nước.
Bà con nông dân thì kể lại nhiều trường hợp rễ chuỗi tố oan trung ương, phú nông, kích họ lên thành phần địa chủ cường hào gian ác để tịch thu được nhiều ruộng đất. Không ít trường hợp tố oan, vu khống để trả thù nhau. Cũng nhiều trường hợp do cán bộ đội mớm cung hoặc nhục hình buộc địa chủ phải nhận tội gian ác. Nguy hại nhất là nhiều cán bộ đội cải cách coi nhục hình là biện pháp tốt không thể thiếu trong đấu tranh giai cấp, mặc dầu Uỷ ban Cải cách Ruộng đất Trung ương đã nhiều lần chỉ thị ngăn cấm nhục hình.
Chúng tôi hỏi:
“Nghe các anh báo cáo, Bác nói thế nào?”
“Bác chưa nói gì, những tỏ ra rất đăm chiêu tư lự. Có lẽ nay mai họp Hội nghị Trung ương Bác sẽ có ý kiến.”
Một không khí hồi hộp chờ đợi lan nhanh trong số cán bộ của Uỷ ban Cải cách Ruộng đất Trung ương.
*
Hội nghị Trung ương họp vào tháng 9, kéo dài đến tháng 10-1956. Có người nói đây là Hội nghị Trung ương lần thứ 9, có người gọi đây là Hội nghị Trung ương lần thứ 10. Cuốn sử biên niên của Viện Sử học (xuất bản 1975) chỉ ghi Hội nghị Trung ương lần thứ 8 rồi ghi đến Hội nghị Trung ương lần thứ 10 mà không ghi gì về Hội nghị Trung ương lần thứ 9. Phải chăng đây là hai cuộc họp quan trọng được nhập làm một?
Cuốn hồi ký Giọt nước trong biển cả của cha tôi ghi lại một cách khái quát nhưng cũng khá đầy đủ:
“Hội nghị Trung ương về sửa sai Cải cách Ruộng đất họp vào tháng 9-1956, là một cuộc hội nghị họp nhiều ngày nhất (gần một tháng) từ khi có Đảng. Hầu hết các đồng chí Trung ương đều cho rằng trong quá trình Cải cách Ruộng đất, Uỷ ban Cải cách Ruộng đất đã không thi hành đúng chủ trương của Đảng. Thí dụ:
- Đảng chủ trương “đấu lý” để nâng cao giác ngộ của nông dân và làm cho địa chủ biết việc bóc lột nông dân là không đúng thì các đội cải cách đã để cho nông dân xỉ vả người bị gọi là địa chủ, thậm chí để cho nàng dâu xỉ vả mẹ chồng, con xỉ vả bố mẹ, mà người bị gọi là địa chủ cứ phải cúi đầu chịu, không được thanh mình phải trái, có người bị bao vây chặt chẽ đến nỗi cơm không có ăn, hàng xóm hoặc bà con quá thương phải giấu lén đưa cho củ khoai, củ sắn.
- Đảng chủ trương những địa chủ có công với cách mạng, hoặc địa chủ kháng chiến được chiếu cố, thì các đội cải cách đều coi họ là địa chủ có tội ác với nông dân mà đấu tố lung tung.
- Đảng chủ trương những người có một ít ruộng cho thuê, nhưng nguồn sống chính là nhờ vào việc làm ăn khác, như đi buôn, dậy học v.v… thì chỉ khuyên họ trả ruộng đất cho nông dân, mà không coi là địa chủ, nhưng các đội cải cách cứ coi là địa chủ để mặc cho nông dân tuỳ tiện xỉ vả. Vì vậy có những người chỉ có năm ba sào ruộng mà cũng bị coi là địa chủ, trở thành một hiện tượng phổ biến. Những người là trung nông đáng lý phải được đoàn kết chặt chẽ trong hàng ngũ nông dân, những người phú nông đáng lý phải được ở vào địa vị liên hiệp trong Cải cách thì một số không ít cũng bị coi là địa chủ, bị tịch thu hết ruộng đất nhà cửa, của cải, bị đủ mọi điều xỉ nhục mà không được chối cãi.
- Tai hại hơn là lúc chuyển sang giai đoạn “chỉnh đốn tổ chức” thì chẳng những đánh vào trung nông và phú nông mà còn đánh vào các tổ chức cơ sở Đảng, phần lớn là những đảng viên vào Đảng năm 1930, hoặc tham gia Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội từ những năm 1925 – 1926 đều bị đấu tố và giam cầm. Đặc biệt là ở Nghệ Tĩnh thì nhà tù dựng lên khắp nơi, hầu hết cơ sở Đảng đều bị đánh phá tan nát.
(…)
- Hồ Chủ tịch tuy không ở trong Uỷ ban Cải cách Ruộng đất nhưng với cương vị là Chủ tịch Đảng, đã nghiêm khắc tự phê bình trước Hội nghị về việc thiếu kiểm tra đôn đốc. Người chủ trương Đảng phải kiên quyết sửa sai.”
Trên tinh thần thừa nhận sai lầm, các đồng chí phụ trách Uỷ ban Cải cách Ruộng đất Trung ương đều tự nhận phần trách nhiệm: đồng chí Trường Chinh thôi giữ chức Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Các đồng chí Hoàng Quốc Việt , Lê Văn Lương rút khỏi Bộ Chính trị. Đồng chí Hồ Viết Thắng ra khỏi Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
*
Sau này, trong một buổi gặp mặt, anh Lưu Động, một đồng chí lão thành cách mạng kể lại cho tôi sự kiện sau đây. Anh nói với giọng thân mật của một bác đàn anh:
“Hồi ấy mình đã có lúc gặp anh Hoan trong dịp phát hiện sai lầm Cải cách Ruộng đất. Mình cũng đi Cải cách Ruộng đất, làm một cán bộ trong đội công tác, thấy bọn họ xử lý oan cán bộ, quy oan thành phần địa chủ, truy bức, nhục hình, mình chống lại, bị họ phê bình cảnh cáo. Mình tức quá, viết thư lên anh Trường Chinh. Anh đả thông, mình không chịu. Một hôm, vào khoảng tháng 9-1956, anh Trường Chinh triệu tập mình đến trụ sở Trung ương Đảng ở cạnh hồ Hale. Mình đến thì đã thấy anh Hoan và anh Trường Chinh ở đó. Một lúc sau Bác đến. Cuộc họp chỉ có mấy người thôi. Mình có dịp được trình bầy với Bác những điều phê phán của mình. Anh Hoan nói nhiều về các vấn đề anh không đồng tình với anh Trường Chinh, về những điều mắt thấy tai nghe, dư luận trong cán bộ và nhân dân và những lý lẽ anh phê bình cách tiến hành Cải cách Ruộng đất.”
Qua câu chuyện của anh Lưu Động, tôi hiểu rằng cuộc đấu tranh của cha tôi phát hiện sai lầm này là rất gay go. Nếu không có sự can thiệp của Bác chắc khó mà phân rõ phải trái.
Đến năm 1960, tôi mới có dịp tranh thủ tìm hiểu thêm qua cha tôi. Ông kể:
“Hồi ấy, trong các cuộc hội nghị Trung ương, lúc đầu có 5 anh phê phán sai lầm Cải cách Ruộng đất.”
“Những ai hả thầy?”
“Các anh Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Võ Nguyên Giáp, Tố Hữu và tôi. Sau khi nghe anh Trường Chinh đả thông thì bốn anh im lặng. Riêng tôi cứ kiên trì phản bác lý lẽ thanh minh của anh Trường Chinh. Mình thấy rằng nếu Trung ương không nhận ra những sai lầm này thì nguy hiểm quá. Anh Trường Chinh nói: ‘Bây giờ chỉ còn một mình anh Hoan, đề nghị anh tiếp tục suy nghĩ. Tôi sẽ gặp và làm việc riêng với anh trong một buổi sau.’”
“Cuộc gặp sau có căng thẳng không hả thầy?”
“Mình chờ đợi mấy hôm thì có 4 cán bộ sừng sỏ của Uỷ ban Cải cách Ruộng đất Trung ương sang nhà khách gặp mình, nói là họ được anh Trường Chinh phái đến. Họ đem hết tài liệu, số liệu về thắng lợi Cải cách Ruộng đất ra để thuyết phục tôi. Nghe xong tôi nói: Tất nhiên Cải cách Ruộng đất đem lại ruộng đất cho nông dân, đó là thắng lợi quan trọng của cách mạng, chứng tỏ đường lối lớn của Đảng ta là đúng. Nhưng sai lầm trong cách làm lại quá nghiêm trọng, quá phổ biến, đã ảnh hưởng sâu sắc đến lòng tin của nhân dân và uy tín của Đảng. Những điều các anh trình bầy hôm nay tôi đã được nghe nhiều rồi. Đề nghị các anh về báo cáo lại với anh Trường Chinh rằng anh đã hẹn đích thân gặp tôi những sao không gặp, mà lại phái các anh đến. Cách làm việc như thế tôi không đồng tình đâu!”
“Rồi sau đó, anh Trường Chinh có gặp lại thầy nữa không?”
“Có. Sau đó mình trình bầy thêm với Bác, Bác đã gặp chung cả mình với anh Trường Chinh. Thực ra những sai lầm của Cải cách Ruộng đất không phải như cái kim trong bị lòi đầu ra mà như cái ung nhọt và mủ. Nỗi oan ức trong nhân dân đã quá nặng nề, ‘tiếng oan dậy đất’ đến tai Bác. Trong Hội nghị Trung ương, Bác lắng nghe ý kiến mọi người và khẳng định rằng Cải cách Ruộng đất giải phóng nông dân, xoá bỏ quan hệ bóc lột phong kiến là một thắng lợi căn bản to lớn, nhưng trong việc chỉ đạo thực hiện đã phạm những sai lầm nghiêm trọng. Nhiều đồng chí uỷ viên trung ương phê bình cách làm việc của Bộ Chính trị và Ban Bí thư có chỗ chưa hợp lý nên mới để xảy ra những sai lầm trong Cải cách Ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức kéo dài đến lúc kết thúc mới được phát hiện. Các đồng chí đề nghị bổ sung ba thành viên Bộ Chính trị và đã bỏ phiếu bầu ba người: anh Nguyễn Duy Trinh, anh Lê Thanh Nghị và tôi vào Bộ Chính trị. Trong tình hình đó, Bác là Chủ tịch Đảng phải kiêm nhiệm chức Tổng Bí thư.”
Sau Hội nghị Trung ương, cha tôi ở lại trong nước một thời gian tham gia việc chỉ đạo sửa sai bước đầu, rồi mới trở sang Bắc Kinh tiếp tục công tác ở Đại sứ quán cho đến năm 1957 mới trở về hẳn trong nước.
Đầu năm 1957, tôi được Trung ương cho sang Mạc Tư Khoa học tập lý luận ở trường Đảng cao cấp Đảng Cộng sản Liên Xô. Mùa hè năm ấy, cha tôi tháp tùng Hồ Chủ tịch đi thăm 9 nước trong “phe xã hội chủ nghĩa”. Đoàn của Bác Hồ dừng lại ở Mạc Tư Khoa, và cha con chúng tôi lại có dịp gặp nhau.
Cho đến lúc này tôi mới biết cha mình được bổ sung vào Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khi đọc báo Nhân dân đưa tin về danh sách đoàn đại biểu cấp cao Việt nam do Hồ Chủ tịch dẫn dầu đi tham hữu nghị 9 nước.
Cha con gặp nhau ở nhà khách Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô ông cười, hỏi tôi:
“Tân còn nhớ bức thư gửi sang Bắc Kinh góp ý với mình về lập trường giai cấp nữa không? Bây giờ Tân được học tập có hệ thống lý luận chủ nghĩa Mác – Lenin, cần phải chú ý nâng cao lập trường giai cấp. Nhưng lập trường giai cấp không phải là ‘công nông chủ nghĩa’ mà là vận dụng đúng đắn chủ nghĩa Mác Lenin vào thực tiễn Việt Nam, lúc nào cũng phải nghĩ đến lợi ích của nhân dân. Sách có câu ‘Hưng lợi, trừ hại’. Ngày nay chúng ta làm cách mạng mà biết quan tâm hưng lợi trừ hại cho nhân dân thì mới là có lập trường giai cấp.”
Câu chuyện về cha tôi phát hiện sai lầm Cải cách Ruộng đất cùng với toàn bộ sự kiện Bác Hồ thừa nhận sai lầm Cải cách Ruộng đất, đối với tôi có ảnh hưởng rất sâu sắc. Từ ngày ấy tôi tâm niệm rằng mình phải độc lập suy nghĩ, phải trung thực từ trong sự suy nghĩ của bản thân mình thì mới tránh được sai lầm, và mới thực sự “dám nghĩ, dám nói, dám làm” như Bác Hồ đã dạy. Tôi coi cha tôi là một tấm gương cho tôi trong việc độc lập suy nghĩ, dám nghĩ, dám nói, đặt lợi ích chung của Đảng, của nhân dân lên trên những tính toán riêng tư cho mình.
Nguồn: Hồi ký Thiên thu định luận của Hoàng Nhật Tân, tác giả tự xuất bản.