Saturday, 19 April 2014

Lục xì là gì?


Lục xì là một thiên phóng sự nổi tiếng của Vũ Trọng Phụng viết về nơi chữa bệnh cho gái mại dâm.

Từ lục xì, có khi viết là lục xi (Lê Văn Đức, 1970a:846), ban đầu được gọi là nhà khám bệnh đàn bà (Gouzien, 1897:148)

Nguồn gốc của từ lục xì nay ai cũng rõ. Đó là cách người Hoa kiều phát âm hai từ tiếng Anh  look, see. Cụm từ look see được họ dùng với nghĩa là xem xem / xem nào / xem đi.
Dans le prodigieux charabia de ces courtiers, toutes les choses qu'ils apportent prennent l'appellation étrange de looksee — prononcez louksi — des verbes anglais to look (regarder) et to see
(Pimodan, 1900:364)

Người Việt đi khám bệnh, bắt chước người Hoa gọi là đi lục xi:
E khi bịnh hoạn không chừng,
Có quan thầy-thuốc mỗi tuần lục xi.
(Nguyễn Liên Phong, 1909:31)

Nhà khám bệnh tiếng Pháp là dispensaire, nhưng người Pháp ở Việt Nam nghe nhà lục xi / lục xì / lục sì riết thành quen, cũng ghi là louksi (Gouzien, 1897:148).

Friday, 18 April 2014

Diễn từ nhận giải (Tạ Chí Đại Trường - Quỹ Phan Châu Trinh)


Diễn từ nhận giải - Tạ Chí Đại Trường


ÔNG TẠ CHÍ ĐẠI TRƯỜNG
DIỄN TỪ NHẬN GIẢI NGHIÊN CỨU

 


GARDEN GROVE ngày 12 tháng Ba năm 2014.

Kính thưa Bà Chủ tịch Quỹ Văn hoá Phan Châu Trinh,

Kính thưa Quý vị trong Ban Ðiều hành Quỹ Văn hoá Phan Châu Trinh,

Kính thưa Quý vị hiện diện,



Trước hết tôi xin được tỏ lòng biết ơn với tất cả những ai có lòng đề cử tôi vào việc nhận Giải của Quỹ Văn hoá Phan Châu Trinh lần thứ VII này. Tôi đã có lần nhắc đến câu Tái ông thất mã cho trường hợp viết một quyển sách của mình. Ðến nay, tuy không muốn cho ý tưởng mang tính định mệnh tiêu cực của câu nói trên chen vào quyết định đầy hướng vị tha nhưng chắc cũng phải gặp nhiều trở ngại này của Quý vị, tôi cũng vẫn cứ muốn nhắc lại nó để giữ vị trí kẻ bên lề của tình hình nghiên cứu sử học trong một nước mà tôi không được quyền tham dự. Theo tôi, có như thế, một kẻ suốt mấy mươi năm không bước chân vào một thư viện lớn nhỏ nào, không chịu sự kềm thúc của một cơ quan nghiên cứu nào như tôi mới có thể vượt, ít ra là một chút mất lòng, khi nhìn lại những vướng mắc cụ thể ngay từ trong quá khứ đến những hiển hiện trước mắt của một nền sử học muốn là khoa học cho Việt Nam. Xin Quý vị cho tôi tỏ bày:



NHỮNG VÒNG KIM CÔ CỦA NỀN SỬ HỌC VIỆT NAM



Một nền sử học truyền thống khu vực chưa qua...


Việt Nam có một nền sử học lâu đời lấy từ truyền thống viết sử khu vực Ðông Á, điều này không phải gây tranh cãi. Chứng cớ còn đó: Ðại Việt sử kí toàn thư, (Ðại) Việt sử lược, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Thực lục của nhà Nguyễn... Nhưng nằm trong phát triển riêng biệt của khu vực, các công trình ghi nhận quá khứ ấy cũng phải chịu nhiều ràng buộc từ thể chế chính trị, áp lực văn hoá sản sinh ra nó, chuyển biến từ trung tâm Trung Hoa lan ra vùng ngoại biên, ở đây là Việt Nam với tính chất riêng của vùng thụ nhận.



Trước tiên việc viết sử nước, với khởi thuỷ là của triều đại, là do một cơ quan chuyên trách ăn lương nhà nước, được gọi là Quốc sử quán, Quốc sử viện... tuỳ thời vụ. Tuy khi thiết lập thể chế, hoặc được thúc đẩy bởi những lí tưởng cao cả, hoặc từ thực tế muốn tạo sự quân bình quyền lực, người ta đã đưa ra cả một khuôn mẫu lí thuyết và thực hành để người viết sử có thể thực hiện nhiệm vụ của mình nhưng mối tương quan bất bình đẳng giữa người chủ làm-lịch-sử có quyền lực và kẻ làm công viết-lịch-sử vẫn là điều không tránh khỏi. Ở Trung Quốc, các ông sử quan ươn ngạnh hùng hổ xuất hiện trong các đời Xuân Thu Chiến Quốc mờ mịt, nhưng sự thực có thể kiểm chứng được là trường hợp Tư Mã Thiên bị thiến và Ban Cố nằm ngục của triều đại Hán. Ðịa vị người cầm bút ở Việt Nam càng thấp kém hơn khi đối với giới cầm quyền, họ chỉ là kẻ phụ thuộc với chỉ danh chung, “thư gia” còn mang chút nể trọng của Lí, đến sỗ sàng: “thư nhi”, “gia thần” của các hoàng tộc Trần trong tiếng gọi thường tình, và chỉ hẳn là “nô” khi cần phải trừng trị... Cho nên nho sinh Ðoàn Nhữ Hài sửa thực lục, đốt bỏ bản cũ hẳn là đã làm đúng chức phận của tầng lớp mình. Có tổ chức lại cho hợp với đời mới thì bầy tôi của vua, “quốc thần” cũng vẫn bị Lê Thánh Tông mắng sa sả như thường.



Cái luỵ vì làm kẻ đi sau, có khuôn mẫu để ngưỡng mộ đã khiến cho sử Việt có dấu vết được chép qua những hình ảnh xuất hiện ở phương Bắc trước đó. Ví dụ chuyện giữa Ðinh-Ngô với vai trò trung gian Ðinh Liễn có dáng của Lưu Bang, Hạng Vũ, chuyện Trần Thánh Tông đốt bỏ hòm sắc đầu hàng đã thấy ở Tam Quốc chí diễn nghĩa. Hoàng hậu Trần che cho chồng tránh con báo sỗng chuồng như chuyện trên một họa đồ cũ của Hán. Và điều này thì không phải là chuyện thóc mách của người đời nay: Nguyễn Nghiễm đã từng thắc mắc chuyện Lê Hoàn cướp ngôi Ðinh quá giống màn Binh biến Trần Kiều của Triệu Khuông Dẫn... Có thể coi những ghi chép này chỉ là kết quả vài trường hợp cụ thể của đường nét tiến triển chung học được về quan niệm thịnh suy của triều đại, như khi Ngô Sĩ Liên mượn nói về sự suy sụp đời thượng cổ, “chỉ vì vua Hùng say sưa, bỏ việc nước”! Cái “nước” đó cũng có khuôn mẫu là một hệ thống cai trị chuẩn mực quyền hành sâu sát từ trung ương đến địa phương, đầy tự tín cho sử thần!



Tai hoạ xảy ra cho tình trạng quá khứ Việt xuất hiện không đúng với sự thật, có phần cũng chỉ vì sử được viết bằng chữ nước ngoài, một điều kiện bất khả kháng của tiến triển dòng tộc cai trị trong suốt thời gian dài. Bố cáo của triều đình phải có người “dịch” ra cho dân chúng hiểu. Ngoại ngữ Hán đã khiến sử quan không đủ chữ để diễn tả các sự vật, sự việc chung quanh, nhất là khi tầng lớp cai trị trên cao còn có sinh hoạt gần với dân chúng, như trong thời gian của những thế kỉ đầu độc lập. Còn khi đã chen được vào các sinh hoạt của khuôn mẫu thì sự ghi chép lại trở nên nhàm chán vì quen thuộc như chứng dẫn ở giai đoạn Lê Trung hưng trong Toàn thư.Người học, học xong đã đuối thì thấy gì tương tự dễ  chộp ngay làm của mình cho khoẻ. 



Một khuôn mẫu có sẵn phát triển trên một vùng đất chật hẹp không tạo ra nhiều tình huống phức tạp cũng là nguyên nhân khiến cho phần sử cổ, trung đại Việt Nam bị bó gọn trong một quyển, gom lại có tên rút gọn ngày nay là Toàn thư, được coi như là bằng cớ chắc nịch của quá khứ, chỉ để noi theo, xê xích thêm bớt, tán rộng chứ không phải là những chứng dẫn để chịu đựng sự tra xét nghiêm ngặt khi muốn tìm hiểu quá khứ như đối với bất cứ tài liệu nào có dưới tay sử gia. Thái độ đó đã thấy ở người xưa, với Ngô Thì Sĩ trong Ðại Việt sử kí tiền biên, và, thật tội nghiệp, như vẫn thấy hầu hết ở “công trình sử học” của các danh gia lớn nhỏ bây giờ. Quyển thông sử cương mục của nhà Nguyễn chỉ nổi bật ở phần chú dẫn địa lí, tuy muộn màng những cũng là mang lại thành công đáng kể ở khía cạnh mới. Lỗi lặp lại, ghi chép qua loa không phải ở sử quan Nguyễn bởi vì phần lớn họ cũng xuất thân từ đất của các vương triều Lí, Trần, Lê, nơi cũng chỉ để lại trong quá khứ chừng ấy chuyện, không biết phải tìm thêm ở đâu khác, bởi vì những người đồng sự bậc tiền bối của họ không chịu khó làm việc chữ nghĩa ngoài phận sự “dân chi phụ mẫu” trên trước. Một số ít công trình lạc loài đâu đó về những sắc màu biến chuyển của những thành phần bên ngoài nơi chốn cung đình, hay cả những sự kiện nằm trong triều đình, hình như đã không đủ mức độ uy tín khiến cho các sử quan khi sử dụng chúng phải dồn vào trong hình thức chứng từ mơ hồ “dã sử”, rõ ràng là mang tính coi nhẹ ngay từ khởi đầu. Cái khuôn khổ chật hẹp được định hình rốt lại đã gây khó khăn cho các ý thức cởi mở khi đất nước lớn rộng, chứa chấp các đối tượng mang nhiều màu sắc phức tạp, khó nắm bắt.



Tính chất “độc quyền” lưu giữ quá khứ của quyển Toàn thư có nguyên nhân bởi chính thể chế đã tạo ra nó, lại vẫn chứa đựng những yếu tố lâu dài chực chờ yểm trợ hay biện minh cho những diễn biến tiếp nối. Quan niệm vể lịch sử duy trung tâm có thể xuất hiện bất cứ ở đâu có một chính quyền mạnh nhưng ở vùng Á Ðông thì đã có tên riêng khởi đầu trong vùng châu thổ Hoàng Hà với một Trung Quốc văn minh, bao quanh bằng một lũ Di Man phải được nâng cấp cho theo kịp vùng trung tâm, tất cả theo một tiến trình mang tên làVương hoá. Rồi đi theo với sự lan truyền trong thời gian, trên đất cựu thuộc địa của đế quốc Hán, Ðường trở nên độc lập, lại có thêm một khuôn mẫu Trung Quốc tự xưng khác mang những tên An Nam, Ðại Việt, cũng coi những tập đoàn chung quanh là Di Man với các tên riêng biệt của họ: Nùng, Thổ... Lâm Ấp, Chiêm Thành, Chân Lạp, Cao Miên (Khmer). Quan niệm về trung tâm ưu việt và tính chính nghĩa của quyền lực nằm ở trung tâm ấy đã khiến xảy ra những cuộc tàn phá, huỷ hoại chứng tích của những tập đoàn yếu thế, cùng chủng tộc hay không, như Việt đối với Chiêm Thành, Trịnh Lê đối với Mạc, Nguyễn Gia Miêu đối với Tây Sơn. Quan niệm trung tâm ưu việt đó vẫn thấy tiếp nối đến ngày nay với những huênh hoang dù có lúc ngượng ngùng: Ta là Nhất, là Riêng Biệt.



Sử sách Việt được viết tiếp nối theo quan niệm ứng xử đó với các dân tộc lân bang, cũng lại tiếp tục được đem dùng với cả những người ở xa, với bọn Dương Di “mắt xanh như của những xác chết trôi”, bị ghê tởm dù đã đi trên những tàu chiến áp đảo. Thực tế tương quan quyền lực dễ dàng làm thay đổi cách đối phó với nhóm người này nhưng sự tiếp xúc với thế giới to rộng cũng gây một chút điều chỉnh lúng túng với nhóm người cũ. Vào thời cổ động một thế giới đại đồng, chống đối thực dân xâm lược, quyển sử của VNDCCH, ngoài những nguyên nhân khác, đã né tránh đến việc phát triển phần đất phía nam trên chủ quyền của dân tộc Chiêm Thành. Công cuộc kinh dinh của một chúa Nguyễn bị thù ghét, đem lại một nửa diện tích cho đất nước ngày nay lại chỉ được trình bày trong vài chục trang ngắn ngủi. Và khi sửa lại sách của Trần Trọng Kim, tái bản năm 1999, người ta không nệ vấn đề tác quyền, đã bỏ cả vài  mục “nhạy cảm” trong quyển sách. Nhưng những điều chỉnh lặt vặt đó không ngăn chặn được vai trò to lớn của quyểnToàn thư vì sự độc quyền chép sử khu vực khá liên tục lâu dài trên phần đông bán đảo Ðông Dương. Nó được khai thác theo với sự thành lập nước Việt Nam độc lập mới, không những mang những kiến giải huênh hoang khá lạ lùng mà còn đang được sử dụng theo hướng thành lập một nền Quốc giáo, cho là dựa trên các sử liệu chắc nịch cũ để đảm bảo cho một chủ nghĩa dân tộc thần thuyết dẫn vào tương lai. 



Sự đứt đoạn cũ, mới



Những ràng buộc cụ thể hay vô hình, khắc nghiệt hay lơi lỏng tưởng có thể mất đi với sự sụp đổ của triều Nguyễn, triều đại gắn liền với một truyền thống viết sử mang nhiều hệ luỵ vật chất, tinh thần mà người viết sử phương Ðông phải gánh chịu qua nhiều ngàn năm. Bởi vì người Pháp xâm lăng Việt Nam không phải chỉ tước quyền một triều đại mà còn đem lại một vũ trụ quan, một nhân sinh quan mới trong đó có chỉ ra cách nhìn, cách viết về quá khứ theo đường lối phát triển của họ.

Nói đúng ra, ngay cả khi mất quyền cai trị đất nước, triều Nguyễn vẫn còn giữ được một dáng hình phụ trợ cần thiết với hệ thống vua quan, cả đến tận chức quyền xóm làng để có thể lưu giữ những cơ quan vô hại như Quốc sử quán, được tiếp tục làm công việc trong thầm lặng của mình. Các sách địa chí lịch sử đề xướng từ đầu đời, viết về thời gian còn chủ quyền, mãi đến gần cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX mới thấy đem ra in ấn chính thức, mà theo lối cũ, nghĩa là bằng bản văn chữ Hán, in mộc bản. Trong giai đoạn mất quyền thực sự của các đời cuối, vua quan gần như hết chuyện làm, đã cố vớt vát ghi thực lục trong vài mươi trang bản thảo lưu lạc chìm lấp, chỉ mới trở lại in, dịch trong thế kỉ XXI.



Dòng sử kí âm thầm, nuối tiếc ghi chép với một chút ấm ức đối với người cai trị mới đó, rõ ràng không đủ biểu hiện những biến chuyển đã xảy ra trên toàn đất nước trong cùng thời gian. Người Pháp đã đem lại một quan niệm mới về cách nhìn quá khứ của dân chúng trên phần đất họ chiếm được, ghi chép từ những sự việc vừa xảy ra, mới xảy ra cho đến việc tìm tòi đi sâu vào những mù mờ, tối tăm của lịch sử, đầu tiên là họ tự làm, nơi thường được gọi là Trường Viễn Ðông Bác Cổ đặt ở Hà Nội, và hội đoàn Les Amis du Vieux Hue nằm ở xứ Huế, hội Khảo Cổ Ðông Dương ở Sài Gòn. Người cai trị lo giữ gìn sự trị an, ép buộc dân chúng thuộc địa chuyển đổi theo cách cắt đứt quá khứ, bỏ chữ Hán thay bằng “quốc ngữ”, xây dựng cơ sở hạ tầng, thiết lập các thể chế xây dựng kinh tế, cai trị theo thời mới, từng bước chuyển đổi giáo dục... khiến dân Việt dù muốn hay không cũng phải đi vào sinh hoạt toàn cầu, dứt khoát không có đường trở về lối cũ. Người Pháp chưa phải quan tâm tới việc đào tạo một thế hệ sử quan mới, sử quan khoa học nhưng chính những thay đổi mang tính “cách mạng” (đổi đời) của chế độ thuộc địa cũng mang lại một lớp người nhiều sắc màu, có lúc nhìn về quá khứ dân tộc, đất nước theo cách phản kháng nhưng vẫn khuất lấp chấp nhận những ân huệ từ cung cách thay đổi đất nước của những người cầm quyền thực dân.



Cũng có thể kể trường hợp riêng biệt về Trương Vĩnh Ký như một sử gia Việt (tự do) đầu tiên nằm trong giao thời nhưng với những ồn ào tranh chấp nghiêng nhiều về tính chất chính trị, kèm cặp với thành phần tôn giáo của ông, khiến hình như chưa ai có nhận định kĩ xem quyển sử Việt viết bằng tiếng Pháp của ông đã mang tính chất gì trong dòng sử học chung. Theo kịp với cải cách giáo dục mới, nhà giáo Trần Trọng Kim đã nhanh chóng khai thác sử liệu cũ, mới tập họp thành quyển An Nam sử lược (1918) nhưng có vẻ lạc loài trong tình hình kiến thức chung, chứng tỏ là nó chỉ nổi bật trong quần chúng theo tên sửa lại Việt Nam sử lược đi theo với khuôn khổ chính trị mang tên Quốc gia Việt Nam của thời Hoàng đế Bảo Ðại trở lại chính trường. Tất nhiên là ta chưa nói đến những người được đào tạo chính danh về sau qua các trường Ðại học mở ở Hà Nội hay dạy du học sinh tại Pháp, đã trực tiếp đào tạo Nguyễn Văn Huyên, Trần Văn Giáp... gián tiếp gây thành tựu cho một Hoàng Xuân Hãn. Nhưng một tinh thần khoa học mới thấm nhuần qua nền giáo dục cải cách cũng có tác động lên tầng lớp trí thức An Nam làm việc trong công quyền, chuyên môn hay không. Không những có một Nguyễn Văn Tố với vai trò trưởng ngành hành chính của Viễn Ðông Bác Cổ, vượt được công việc giấy má chắc là cồng kềnh nhàm chán, để tỏ bày thêm khả năng sửa chữa văn từ cho ông Việt trưởng mà còn thoát thân ra ngoài xã hội làm cây bút chính của tờ Tạp chí Tri Tân, nghiên cứu sử Việt phần lớn còn rụt rè theo những văn bản, thư sử cũ. Cả những người đến Trường Viễn Ðông Bác Cổ, thoảng qua so với thời gian lập nghiệp to lớn, như Phạm Quỳnh mà cũng thấy thâm nhập quan điểm mới để nghi ngờ rằng thời đại Hai Bà Trưng chắc không vĩ đại như hình ảnh “đầu voi phất ngọn cờ vàng” đi trả thù chồng, hùng dũng trong sử sách thơ ca hoà nhịp với những diễn tập ồn ào hàng năm ở các hội làng. Nhưng tất cả những người ấy sẽ lại trở thành những nạn nhân của một thời mới không thành hình của một đường hướng lịch sử khác, bắt nguồn từ tính chất bảo thủ truyền thống trong khu vực, mà lạ lùng thay, có sự đóng góp của những người cai trị thực dân đang muốn chuyển đổi truyền thống như đã thấy.



Khởi xướng đầu tiên là thành phần ưu tú chống đối chế độ thuộc địa. Lúc nào cũng cần phải có người cầm đầu nên phong trào Cần vương xuất hiện trong thời gian xung đột mất chủ quyền đầu tiên. Trước sức mạnh không chối cãi được của súng đạn, người ta không tin vào thế lực thế tục của chính mình nữa nên phải viện dẫn đến thần thánh. Ở cuối phần đất phương nam, thêm vào hình ảnh một ông Gia Long tẩu quốc / phục quốc có một ông Minh vương đuợc chờ đợi xuất thế, đôi khi dưới dạng ông Minh Mạng có chữ “minh”! Trên phần đồng bằng phía Bắc, người ta không cần đến dạng hình mơ hồ Minh vương, lại đang sẵn căm ghét một Minh Mạng “cấm quần không đáy”, gợi đến một triều đình với người khai sáng chiếm đất vua cũ của họ mà tội lỗi “cõng rắn cắn gà nhà” hiện hình ngay trong hiện tại với xác thân dòng dõi: “Ai về điện phủ hỏi Gia Long, Khải Ðịnh thằng này phải cháu ông?” (Ngô Ðức Kế). Các nhà trí thức chống đối ở đây đã đi tìm đấng thiêng liêng ngay trong hình ảnh được ghi chép trên quyền sử độc nhất có thẩm quyền như đã nói. Và vua cũ đã xa đời, quá mờ mịt thì hình ảnh ông tổ đất nước, dân tộc càng đậm thêm nhiều thắm thiết, ước ao. 



Ðã nói đến cái lối nhìn Toàn thư như hình tượng chân thật của quá khứ chứ không phải như một chứng từ còn gây tranh luận, nay thêm với tình cảm thúc đẩy, người ta đã coi chuyện Ngô Sĩ Liên đem kỉ Hồng Bàng vào phần mở đầu lịch sử nước như một xác nhận không phải bàn cãi, quên rằng ông sử quan cũng có lúc ngờ vực, phân vân, thấy có quái đản nên nhắc câu Dĩ nghi truyền nghi, như bất cứ ông nho sĩ nào của thời đại ông, giống như đã bắt gặp luôn cả ở các ông sử quan Triều Tiên / Ðại Hàn khi họ nói về khởi thuỷ của đất nước mình. Cũng có việc biện minh về sự kiện “truyền miệng” để Ngô Sĩ Liên làm cớ che chắn nhưng câu chuyện Hồng bàng thị rõ là một thứ tập họp bát nháo, xáo trộn từ  những quyển sách gốc Trung Quốc, có tác giả, chỉ về một khu vực chẳng dính dáng gì đến lưu vực sông Hồng không dễ dàng di chuyển đến khi chưa có máy bay. Sách có căn cước sai lầm chỉ rõ được, không phải đợi đến một vài tác giả ngày nay bài bác để bị mắng chửi mà ngày xưa ông Ngô Thì Sĩ cũng thấy ra rồi! Nhưng không hề gì, còn có trong khu vực một cái đền của thủ lĩnh địa phương Tày Thái nào đó, nối kết tên Hùng Vương lẫn lộn Lạc Vương còn lưu vài dòng chữ của khoảng thế kỉ V, VI đủ để các nhà nho Việt thế kỉ XIV cho nối cánh tay dài lên đến tận hồ Ðộng Ðình, để lập một phả hệ cho đất nước, với tâm ý có lẽ như một sự tự hào trong sự tranh đoạt vai trò Trung tâm / Trung Quốc. Nhưng chút ít như thế cũng là đủ cho các nhà nho, các người chống đối chế độ thuộc địa viện dẫn thành ưu thế tinh thần trong cuộc chiến đấu bất cân xứng, mà với đương thời của họ cho thấy toát ra một chút hụt hơi tuyệt vọng... 



Sự cố gắng kêu gào đến quá khứ con Rồng cháu Tiên cũng đến tai người cầm quyền mới để, với sự tinh ranh quen thuộc của nhà chính trị, họ đem ra khai thác lấy lợi về phần mình. Ðã có cái quảng cáo Rồng Nam phun bạc, đánh đổ Ðức tặc trong Thế chiến I, nhắc mãi về sau thành chứng cớ tội lỗi tầy đình cho một con người nổi tiếng. Và thật đúng,  những lối tuyên truyền vỗ về dân chúng như thế cũng mang lại hiệu quả là nguời Pháp đã giữ yên được thuộc địa Ðông Dương có khoảng 15 triệu người Việt, với chỉ vài ngàn quân trấn giữ, cùng một hệ thống hành chính xộc xệch vì đã mất nhiều cán bộ phải lâm chiến ở chính quốc. Hết chiến tranh, tuy ở phe thắng nhưng quyền lực vẫn mong manh, người Pháp lại phải o bế tiếp dân thuộc địa, và có vẻ vì thấy hiệu quả của món hàng con Rồng cháu Tiên, họ lại chăm chú khai thác tiếp. Họ để vua bù nhìn Khải Ðịnh vươn cánh tay dài ra đất Bắc, mang tiền của dồi dào tu sửa đền Hùng, dựng bia kỉ niệm, đặt mốc ngày tế hàng năm khiến cho một lễ hội mùa xuân co dãn trở thành có tính cách chính quy: ngày 10 tháng Ba, chọn lựa tình cờ trong khoảng mươi ngày hội lễ hàng năm ở đấy, sẽ mở đường cho sự thành hình cố định một Quốc lễ. Người ta đã thấy trong những năm 1920 sự thờ cúng Hùng Vương trên đất Bắc nhộn nhịp hơn bao giờ hết. Sự phồn tạp của hình tượng đền đài phải dẫn đến một nội dung phong phú của đối tượng tế lễ. Cho nên có thể nói là các ông Hùng Vương xưa, với các thứ bực theo số lượng, trải qua đến cuối mùa Nguyễn vẫn chỉ có hai thuỵ hiệu Hùng Duệ Vương, Hùng Hiền Vương trên bia đá, chắc chắn là có đủ tên 18 ông ngay trong bản gốc Ngọc phả được sáng tác vào thời kì phục dựng này, trong hai hay ba dị bản mà người ta còn giữ để đem trưng dẫn trong các cuộc hội thảo ngày nay. Cho nên dù đã được Lê phong là Thánh tổ, ông thần đền Hùng đến giữa thế kỉ XX mới thâu lượm đủ uy thế quần chúng để làm mưa làm gió trong tiến trình tranh đấu cho nền độc lập thống nhất mới. Và chồng chất cho nền sử học nước nhà những hệ luỵ trên những vòng kim cô cũ nặng áp lực mới hơn.



Và một thời đại sử học khoa học nhiều ngáng trở



Tình hình chuyển biến trên thế giới đến mùa thu 1945 mở ra một nước Việt Nam độc lập, kéo dài phức tạp trong sự tranh chấp quyền hành với chính quyền cai trị cũ, với các phe phái trong ngoài. Tuy nhiên nước đã có thì việc nhìn lại quá khứ quốc gia dân tộc không phải chỉ bàng bạc trong tâm ý một số người mà còn được cố định bằng những cơ quan chuyên trách, nhất là khi đất nước Việt Nam độc lập, ngay từ lúc đầu đã nằm trong sự quản lí của một nhóm lãnh tụ đi theo một ý thức hệ không chừa cho một sự buông lỏng nào hết. Thế là mối tương quan giữa người làm lịch sử và người viết lịch sử trở lại theo chiều hướng xấu, càng lúc càng đem đến sự đổ vỡ không cơ cứu vãn cho một nền sử học khoa học vẫn phải len lách chật vật cho hợp thời đại.



Ðã thấy người Pháp, trong khi cai trị thuộc địa, mang đến một lề lối suy nghĩ theo hướng thực nghiệm, không phải chỉ lan toả dần bên trong đất nước mà còn có cơ hội mời gọi từ ngoài thế giới văn minh, qua sự trung gian của tiếng Pháp (trước khi là của tiếng Anh), giống như ngày xưa, qua văn tự Hán mà nhà nho Việt đã bước ra khỏi cổng làng mình. Ông Hoàng Xuân Hãn không tốt nghiệp một trường Ðại học Khoa học Xã hội Nhân văn nào hết mà viết được quyển Lý Thường Kiệt hẳn là từ cung cách thu nhận bài vở, lời giảng dạy trong ngôi trường không có thầy đồ bình văn và môn sinh ê a sách thánh hiền cũ. Mẫu hình làm việc cho sử Việt có thể tìm ngay trong các bài vở tiếng Pháp của nhân viên Viện Bác Cổ hay của Hội Ðô Thành Hiếu Cổ chẳng hạn. Rõ rệt hơn hết là trường hợp trưởng thành của học giả Ðào Duy Anh. Và ảnh hưởng không thú nhận từ các tên thực dân đáng căm ghét kia đã bàng bạc trong lớp người xây dựng nền sử học của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, dù vẫn có những tiếp tay của thế giới xã hội chủ nghĩa đồng thời.



Chỉ vì trong giai đoạn đầu của thời kì giành độc lập, các cán bộ sử ăn lương nhà nước đã có cơ hội thực hành chuyên môn của mình ít gặp xáo trộn như ở những bộ phận khác. Tất nhiên khi tổ chức thành hình thì người cầm quyền cũng không chịu đánh mất sự hiện diện của mình, như đã thấy trong một vài bài mang hơi hướng chỉ dẫn đường lối của ý thức hệ mới. Nhưng có lẽ vì thực tiễn ở một nước thuộc địa khuất lấp không hề có trong đầu óc của các lãnh tụ khởi xướng mácxít, các đồ đệ ở xứ tư bản cũng chưa kịp định hình để khai thác loại lí thuyết Phương thức sản xuất châu Á cổ đại chẳng hạn, còn các nhà macxít Trung Hoa thì cũng chưa nghĩ ra cách thức Hoa hoá lí thuyết cộng sản, nên chuyện vạch ra một đường lối sử học xã hội chủ nghĩa cho lớp người mới đào tạo ở Việt Nam có lẽ chỉ dừng lại nhiều ở các cuộc họp hành đảng bộ hoặc đoàn thể mà thôi. Vả lại thời thế còn dành chỗ khá rộng cho các nhà nghiên cứu mới có công ăn việc làm với đề tài trước mắt về công cuộc chống ngoại xâm xưa và nay, và đi xa hơn, hứa hẹn mang nhiều hãnh diện là khai thác vấn đề nguồn gốc dân tộc tiếp theo công trình của học giả Viễn Ðông Bác Cổ. 



Và đến đây thì có sự hội nhập với quá khứ, để truyền thống được tân trang bằng khoa học, một ngành khoa học thực nghiệm mới: khoa khảo cổ học. Ngành mới, người mới thật dễ dàng cho một sinh hoạt gây nhiều tự tín và nhà nước đổ tiền của, vun bồi khuyến khích cũng không thấy phải uổng công. Kết quả là một tập họp bốn tập Hùng Vương dựng nước ra đời làm căn cứ cho niềm tự tin về một quá khứ lâu đời của quốc gia dân tộc, mang chứng cớ vật chất dồi dào qua những giai đoạn văn hoá có tên Ðông Sơn, Phùng Nguyên, Ðồng Ðậu, Gò Mun tạo hấp dẫn cả trên phần đất phía Nam đang đắm chìm trong khói lửa. Dù ngay đương thời các công trình đó cũng đã lộ ra những sơ hở, rồi về sau xuất hiện sai sót càng nhiều nhưng quan điểm thành hình về một ông vua Hùng thời cổ đại được chứng minh, đã trở thành “di sản thiêng liêng của dân tộc”,  nói như một quan chức sử học đương thời (Phạm Huy Thông 1985) “không cho phép ai lấy danh nghĩa khoa học mà phát ngôn tuỳ tiện”. Chỉ có trong riêng tư người ta mới xì xầm về những kết quả giả tạo của đường hướng sử học mới, mang những lấn át, có khi trấn áp thô bạo đối với những ý kiến khác biệt.



Có điều khó thật khó chấp nhận với nhiều người ngày nay, là sử Việt thật nghèo nàn tài liệu để có thể kéo dài một bộ thông sử từ một tập của Trần Trọng Kim ra hai tập của Việt Nam DCCH thế kỉ XX, ba tập của CHXHCN Việt Nam đầu thế kỉ XXI, với dự tính 15 tập chưa thực hiện đủ ở thập niên trước và 24 tập, nhất định hoàn thành theo tuyên bố mới đây (BBC 15-2-2014). Ít tài liệu không phải chỉ là lời nhận định bi quan của triết gia Kim Ðịnh. Ít tài liệu mà không thể dừng lại việc “bàn sử” thì phải kéo dài nó ra, “vẽ” thêm tài liệu mà khôn ngoan che giấu bằng luận thuyết, gọi là sử dụng “huyền sử”. Ðúng ra thì cũng không có gì sai sót nặng nề ở ông linh mục triết gia này nếu ông vẫn dừng lại bên mép bờ huyền sử như ông đã quen với các hình ảnh ẩn dụ trong sách Cựu ước của ông để “lâu lâu nói chơi cho vui” với các nhân vật huyền sử Việt, hay đẩy đưa tìm tòi về một nền tảng uyên áo nào đó trong lề lối suy nghĩ của người dân cùng tổ quốc với ông. Có điều những biến động mang tính toàn cầu dồn dập xảy ra trên đất nước đã tạo ra ảo tưởng quá phận về những ý tưởng bất chợt lại tìm được quần chúng, khiến cho kết luận “Việt vào Tàu trước” của ông đã mở đường cho những khai thác được gọi là sử học có thể nhìn theo hai hướng. Một hướng của những kẻ liều lĩnh, nói huyên thiên, không cần chứng minh, “không chịu trói mình vào văn bản” – “có thế mới gọi là huyền sử”, viện dẫn những bằng chứng do nghe ngóng, càng cao cấp càng tốt, càng dễ đem ra hù doạ, phát xuất từ những kẻ tìm cách chòi đạp để hiện diện bên cạnh những người có đôi chút tiếng tăm. Cung cách ăn nói mạnh bạo, hùng hổ đòi san bằng, xoá bỏ toàn bộ kiến thức cũ để đem đến một thứ Copernic mới, tuy chỉ là một lối ghép-chữ của những người Cứ tưởng biết được chữ là viết được sử, nhưng vì có ẩn giấu một thứ mặc cảm bị trị chống thực dân vẫn còn bị chèn ép nên những bài vở loại này cũng được xuất hiện cả trên những đối đáp học thuật được nhún nhường trước, gọi là “trao đổi”, “phản biện”. Hướng thứ hai của những người kín đáo hơn -- để khiến có kẻ phải lên tiếng chỉ trích, tố cáo -- nhằm khai thác đại loại những thứ “Việt lí tố nguyên” trong lí số tử vi, trong khái niệm âm dương, Dịch lí để tìm ra, ví dụ tính chất “trọng âm”, “âm tính” trong văn hoá người Việt, hay chuyển qua loại đề tài Bách Việt, luồn những Viêm Ðế, Xi Vưu, Câu Tiễn, Triệu Ðà... dưới dạng hình map-Google tân thời. 



Phải chịu dừng lại ở “huyền sử” vì Kim Ðịnh chỉ là một ông thầy giáo của phần nửa phía nam Việt Nam, nơi cũng nhận được phần truyền đạt mơ hồ lãng mạn về nguồn gốc con Rồng cháu Tiên, hay vừa mới cụ thể hoá bằng câu “ca dao”: Mồng mười tháng Ba... từ nhóm người di cư đầy quyền lực quần chúng mang vào sau năm 1954. Tiếp theo, đối với tập đoàn chiến thắng 1975 gồm những người từng khai thác hiệu quả khẩu hiệu “4000 năm giữ nước và dựng nước” và lớp người kế tiếp xuất thân đồng quê, tách biệt đến vài thế hệ với quan niệm về chứng nghiệm khoa học của thế giới mới, đối với những người này, huyền sử là sự thật lịch sử không còn phải phân vân gì nữa. “Người dân Việt Nam bắt nguồn từ Trung Quốc. Vua của Việt Nam cũng khởi tổ từ Trung Quốc, coi vua Trung Quốc như anh như cha...” Câu nói gây phản ứng ồn ào của Ðỗ Ngọc Bích (17-10-2010) không phải chỉ là lời thất thố vụng dại mà rõ ra là được un đúc từ sinh hoạt cổ sử đã trở thành bình thường trong nước, trong đó dấu ấn địa danh Trung Quốc (Ngũ Lĩnh, Ðộng Ðình), nhân danh anh/em Ðế Nghi / Lộc Tục của Hồng Bàng thị đã thấm vào tận tâm ý nhà khoa bảng. 



Hướng vọng xã hội chủ nghĩa cụt đường cũng mở lối cho ý định tìm một căn bản sâu thẳm nhằm kết tập toàn thể dân chúng dưới tay. Thế là có sự chuyển hướng chính sách của Ðảng, của Nhà nước nhắm vào việc phục hồi “có chọn lọc” các giá trị truyền thống, công nhận những lễ hội trong đó có ngày Giỗ Tổ Hùng Vương. Những xây cất dồn dập tạo cơ sở vật chất để quyết định năm 2007 của Quốc hội CHXHCN VN mang tính chính thống mới đối với dân nước, tiếp theo bằng sự chuẩn nhận Lễ hội của quốc tế năm 2013, đóng thêm dấu ấn quyền lực trên sử gia thời mới về một vấn đề sử học vốn thuộc về quá khứ mà theo họ, vẫn phải chỉ được nhìn theo hướng chứng nghiệm đã qua mà thôi.



Những người làm lịch sử hiện tại như thế đã tạo được, không biết kéo dài trong bao lâu, mối tin tưởng vế một lịch sử thần thuyết của dân tộc để trang bị cho một chủ nghĩa huyết thống tập thể cần thiết cho sự cai trị dân nước dưới tay. Lí thuyết đó có quyền lực chính trị bên trên, có sự ủng hộ của quần chúng bên dưới vẫn mang tâm hồn nhiều thế kỉ truớc, không cần và cũng không màng đến một sự biện biệt nghiêm túc. Tất nhiên chính quyền cũng thấy cần có những lí thuyết gia để, trước hết là phải đánh bạt các quan điểm cũ, mới nâng cấp được hệ thống thần thuyết của mình. Nhưng bởi tính chất của một đất nước đắm chìm lâu dài vào một nền văn chương rổn rảng, mớ triết lí thu thập ở mức trung bình, với những người chưa từng nghe đến tinh thần thực nghiệm, vẫn hiểu sử như lúc đang bàn sử, nên các trí thức này, hoặc thốt ra những lời bài bác thô lỗ cục cằn, hoặc ba hoa những lí thuyết lạc đề sử sự. Nghe họ nói, viết thấy cứ như người lên đồng trên giảng đường, trước đám quần chúng vô danh trong những cuộc mit tinh chính trị, hay ở tập họp quần chúng vô hình thời đại internet. Không hề gì, họ vẫn hiện diện, đầy uy thế.



Lấy ra ví dụ cụ thể về một vấn đề sử học, vấn đề nguồn gốc dân tộc như thế, với tình trạng những người không chuyên môn đòi dạy dỗ chuyên viên khi họ xúm lại mắng mỏ Trần Trọng Dương, hay cao ngạo lấn lướt các sử gia im tiếng khác qua khúc đoạn Kinh Dương Vương của nhà Hán Nôm, mới thấy được áp lực trùng trùng của những kim cô quyền lực trong quá khứ đối với sử gia đã không nhẹ bớt đi mà còn gần như bít hẳn con đường phát triển của một nền sử học khoa học hằng mong ước. 



Có bi quan hay không thì đó cũng là hiện trạng không thể che giấu trên đất nước này, trong thời đại bây giờ.



Garden Grove 11-3-2014



Xin Kính chào Quý vị.

Thursday, 17 April 2014

AN CHI - HỌC GIẢ “BÁCH KHOA” VÀ NIỀM ĐAM MÊ TỪ NGUYÊN (Huỳnh Công Tín - Văn Hóa Học)


EmailIn
Huỳnh Công Tín
Trong lời tựa công trình “Chuyện Đông Chuyện Tây”, Giáo sư Cao Xuân Hạo nhận định sự nổi tiếng của An Chi khiến nhiều người hình dung ông phải là cụ già, đầu bạc trán hói, thông kim bác cổ: “Trong trí tưởng tượng của họ, An Chi gần như là một nhân vật huyền thoại, khó lòng có thật trong cuộc sống còn nhiều hàng dỏm, sách dỏm và trí thức dỏm này.”.

Uy tín trong nghiên cứu khoa học Ngữ Văn, Xã hội và Nhân văn của học giả An Chi, tên thật Võ Thiện Hoa, bút hiệu Huệ Thiên, nổi tiếng từ những năm 90 của thế kỉ XX, khi ông bắt đầu phụ trách chuyên mục “chuyện Đông chuyện Tây” cho Kiến Thức Ngày Nay. Những bài trả lời thắc mắc cho người đọc được ông tập hợp lại in trong công trình “Chuyện Đông Chuyện Tây”, 6 tập, Nhà xuất bản Trẻ phát hành và tái bản trong những năm từ 1997 đến 2006. Được biết, ông cũng chuẩn bị xong tập 7, đang chờ ngày ra mắt độc giả. Lần xuất bản đầu tiên(1), Cao Xuân Hạo viết lời tựa. Trong lời tựa, Giáo sư nhận định sự nổi tiếng của An Chi khiến nhiều người hình dung ông phải là cụ già, đầu bạc trán hói, thông kim bác cổ: “Trong trí tưởng tượng của họ, An Chi gần như là một nhân vật huyền thoại, khó lòng có thật trong cuộc sống còn nhiều hàng dỏm, sách dỏm và trí thức dỏm này.”(2). Tôi vinh dự biết ông gần đây, năm 2007, trong dịp đi đưa tang thầy Cao Xuân Hạo ở chùa Hoằng Pháp. Từ đó, thỉnh thoảng tôi lên Sài Gòn có ghé thăm ông. Ông vẫn khỏe, vẫn làm việc bền bỉ. Dù cao tuổi, ông tiếp chúng tôi chân tình, ngay cả khi cần nghỉ ngơi.
Tôi tặng ông cuốn “Từ điển Từ ngữ Nam Bộ”, 2007, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, xin được sự góp ý. Ông tặng tôi quyển “Những tiếng trống qua cửa các nhà sấm”, 2004, Nxb. Trẻ, TP. HCM. Thời gian sau, tôi nhận được góp ý. Nói chung, những góp ý của ông chân tình và nâng đỡ thế hệ trẻ; khác với ý nghĩ mà tôi mường tượng về ông trước đây: phải là người “căng lắm”. Tôi đọc quyển sách ông tặng, thêm nể sự uyên bác của ông, khi ông thẳng thắn trao đổi với những nhà khoa học tên tuổi, như Giáo sư Nguyễn Lân, Giáo sư Phan Huy Lê, Giáo sư Phan Ngọc, Giáo sư Trần Quốc Vượng… Văn phong ông nhẹ nhàng, ý tưởng chân xác, tâm ông cởi mở, thành thật. Người được góp ý chắc không buồn gì ông. Khi bắt tay làm cuốn “Từ điển Từ ngữ Nam Bộ”, tôi gặp khó khăn trước một số mục từ ngữ cổ, xa xưa, những thành ngữ, quán ngữ riêng Nam Bộ, ít có sách quan tâm giải thích. Biết An Chi, người quê quán Gia Định, học giả nổi tiếng cả nước, học giả “gốc Nam Bộ”, tôi rất mừng. Qua bộ “chuyện Đông chuyện Tây”, tôi giải quyết được những mục từ khó. Về đời tư, được biết ông tự trang bị kiến thức cho mình để nghiên cứu, thật đáng phục. Như Cao Xuân Hạo đã viết trong Lời tựa: “Vả chăng chính cuộc đời của An Chi cũng đã là một tấm gương sáng chói của ý chí vượt qua mọi nỗi gian truân để đạt đến một đỉnh cao của tri thức.”(3), tôi nể phục vốn hiểu biết và nhân cách ông, nên gọi ông là thầy.
An Chi sinh năm 1935, tại Sài Gòn, quê ở làng Bình Hoà, quận Gò Vấp, tỉnh Gia Định. Võ Thiện Hoa là “dân Tây” (có quốc tịch Pháp), tên Pháp là Emile Pierre Lucatos, thời niên thiếu sống ở Sài Gòn – Chợ Lớn. Có 20 năm sống xa mảnh đất quê nhà là thời gian ông vượt tuyến ra Bắc, tháng 5/1955; rồi trở về Nam sau hòa bình lập lại tháng 8/1975. Quãng đời trung niên, lão niên, An Chi đều trải qua ở Bình Hòa, nay thuộc Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.
An Chi cộng tác với một số tờ báo, tạp chí, viết nhiều lĩnh vực: lịch sử, văn hóa, địa lí, ngữ văn…, chuyện trong nước, ngoài nước; điển cố, tích xưa… Bao giờ nhận định, nêu ý kiến, ông cũng tra khảo cẩn thận, tới nơi tới chốn. (Không rõ, ông còn có nguồn tư liệu nào khác nữa không; nhưng tủ sách gia đình ông (theo tôi) là chỗ dựa tin cậy được. Thì ra, ông đầu tư cho việc nghiên cứu từ lâu và “bài bản lắm” mới có được một lượng sách quý như vậy.)
            Lĩnh vực ông quan tâm nhiều là “từ nguyên”. Vấn đề ông viết, tạm chia thành 3 lớp từ ngữ: từ thuần Việt, (bao gồm những yếu tố Việt có nguồn gốc Hán xưa) từ Hán Việt và từ gốc ngôn ngữ khác. Ba lớp từ gốc, xét trên bình diện nội dung chia thành 2 nhóm: từ định danh (biểu vật), từ biểu nghĩa (biểu vật, biểu niệm, biểu thái) trên 2 phạm vi hiện được dùng: toàn dân và địa phương, khẩu ngữ. Khái quát lại có thể hình dung qua bảng:

Từ định danh
Từ biểu nghĩa
Toàn dân
Địa phương
Toàn dân
Địa phương
Từ
thuần Việt

Từ thuần Việt định danh toàn dân(TVĐDTD)
Từ thuần Việt định danh địa phương(TVĐDĐP)
Từ thuần Việt biểu nghĩa toàn dân(TVBNTD)
Từ thuần Việt biểu nghĩa địa phương(TVBNĐP)

Từ
Hán Việt

Từ Hán Việt định danh toàn dân(HVĐDTD)
Từ Hán Việt định danh địa phương(HVĐDĐP)
Từ Hán Việt biểu nghĩa toàn dân(HVBNTD)
Từ Hán Việt biểu nghĩa địa phương(HVBNĐP)
Từ
gốc ngôn ngữ khác

Từ gốc ngôn ngữ khác định danh toàn dân (NNKĐDTD)
Từ gốc ngôn ngữ khác định danh địa phương (NNKĐDĐP)
Từ gốc ngôn ngữ khác biểu nghĩa toàn dân(NNKBNTD)
Từ gốc ngôn ngữ khác biểu nghĩa địa phương (NNKBNĐP)
            Với các nhóm từ được kí hiệu bằng chữ viết tắt, chúng tôi sẽ chọn các trường hợp nghiên cứu tiêu biểu của ông để phân tích, đánh giá.
1. Nhóm TVĐDTD, có bài viết: “Từ nguyên của từ Tết”; có mục trả lời: “Sao Bánh Lái là sao nào và bánh trong bánh lái nghĩa là gì?”.
Bài viết nhận định Tết là một từ Việt gốc Hán, bắt nguồn ở một từ Hán, đọc là tiết. Đưa ra nhận định này, An Chi đã chứng minh từ 2 bình diện ngữ nghĩa và ngữ âm. Có thể nhận định của ông đúng hoặc sai, thuyết phục hoặc không, nhưng theo chúng tôi, việc truy từ nguyên ở trường hợp này không mang nhiều giá trị thông tin giúp cho việc nghiên cứu lịch sử, ngữ văn tiếng Việt. Hơn nữa Tết nếu có gốc Hán, thì việc vay mượn này cũng đã xa yếu tố gốc về thời gian, phương diện ngữ âm, đặc biệt là ngữ nghĩa đã mang một nghĩa riêng hẳn, của tiếng Việt. Ngay cả An Chi cũng thừa nhận điều này khi nói về Tết với nghĩa “Tết Nguyên đán”: “Đây không những chỉ là Tết đầu tiên trong các cái tết của năm âm lịch mà còn là Tết mở đầu cho một năm nữa. Chính vì vị trí đặc biệt của nó trong năm như thế cho nên riêng đối với nó, người ta đã dần dần lược bỏ cái định ngữ “Nguyên đán”; chỉ cần nói Tết mà vẫn biết được đó là tết nào rồi.(4)
            Xác định sao Bánh lái, An Chi không chỉ giúp bạn đọc có được hiểu biết định vị sao trời, tên gọi, mà không ít người đã nhầm lẫn: “Sao bánh lái chính là tên dân gian xưa mà người Việt đã dùng để gọi các ngôi sao mà người Trung Hoa gọi là Bắc đẩu tinh, còn danh từ thiên văn học hiện nay thì gọi là Đại hùng, tiếng Pháp là Grande Ourse, còn tiếng Anh thì gọi theo tiếng La Tinh là Ursa major.”.(5) Cách gọi tên dân gian sao bánh lái là cách gọi “có hình ảnh”, cho thấy dáng tổng quát của chòm sao 7 ngôi này (sao 1: Thiên Khu - Dubhe, sao 2: Thiên Tuyền - Mérak, sao 3: Thiên Cơ - Phecda, sao 4: Thiên Quyền - Mégrez, sao 5: Ngọc Hành - Alioth, sao 6: Khai Dương - Mizar, sao 7: Dao Quang - Alkaid.), tương tự như cái bánh lái ghe, tàu; nên dễ nhận biết hơn khi quan sát sao trời.
2. Nhóm TVĐDĐP, các mục trả lời: “Hai tiếng (dầu) Cù Là xuất xứ từ đâu?, Ở Huế có địa danh Thọ Xương hay không?...”.
Truy tìm xuất xứ và nghĩa của hai tiếng Cù Là, theo chúng tôi, giúp xác định nghĩa ban đầu. Nghĩa này cũng được ghi nhận trong sáng tác của Sơn Nam về xóm Cù Là (nơi người Cù Là (Miến Điện) đến buôn bán, định cư cuối thế kỷ XIX) thuộc làng Vĩnh Hòa Hiệp, cách chợ Rạch Giá 13 cây số, nay hãy còn tên. Quan trọng hơn sự phát triển nghĩa khái quát của từ này trong cộng đồng người Nam Bộ là “tất cả các loại dầu cao, bất kể chúng được sản xuất tại nước nào.”. Mặt khác, tôi cũng đồng ý với An Chi là cho đến giờ, tôi chưa nghe ai trong vùng Miền Tây này gọi “chocolat” là “súc cù là” mà chỉ nghe nói “sô cô la”, hoặc “sô cu la” (nói vui “cho có lát, cho cô la”). Vì vậy, dầu cù cà không căn cứ màu sắc mà căn cứ chất dầu: không phải dạng lỏng mà ở dạng sền sệt (dạng cao).
Truy tìm và khẳng định địa danh Thọ Xương, ở xã Nguyệt Biều thuộc huyện Hương Thủy, gò gối bờ phía nam sông Hương, đối diện với núi Thiên Mụ ở bên kia sông, trước gọi là Kho Thọ Khang thượng, theo An Chi,khang cũng đọc khương, đầu niên hiệu Gia Long đổi tên là Thọ Xương, năm Minh Mệnh thứ 5, đổi tên là Long Thọ Cương, là để khẳng định tính chân xác của câu ca Huế “Gió đưa cành trúc la đà, Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương.”. Đồng thời, giúp loại bỏ những những nhận định phản thực tế.
3. Nhóm TVBNTD, có bài viết: “Chung quanh từ nguyên của từ gạoSấu là một yếu tố cổ Hán Việt, Về từ nguyên của cặp từ chết - giết.”; các mục trả lời: “Ăn vóc học hay: vóc là gì?, Búa trong chợ búa là gì và có phải là một vớibúa trong hóc búa không? Hóc có phải là nghẹn không?, Bưng tai giả điếc: bưng là gì?, Cái trong con cái là gì?, Cào cào và châu chấu, Chiềng trong chiềng làngchiềng chạ không phải là chiềng trong chiềng mường, Chó nhảy bàn độc: độc hay là đọc? Bàn độc (hoặc bàn đọc) là gì?, Do đâu mà có thành ngữ phớt Ăng lê?, Lúa tốt xem biên – người hiền xem tướng: chữ lúa có đúng không?, Mèo mả gà đồng: gà đồng là con gà hoang hay con ếch?, Nguồn gốc của lối nói ông xã, bà xã để chỉ người chồng và người vợ, Phận gái mười hai bến nước: mười hai bến là những bến nào?, Tại sao gọi là đồng bóng? Nếu đồng là do tiên đồng ngọc nữ thì bóng là do đâu?, Tại sao lại nói “chim chuột” để chỉ chuyện trai gái ve vãn nhau?, Thằng bờm có cái quạt mo: bờm hay là bần?, Thuốc đắng đả tật hay thuốc đắng dã tật?, Tiếng Việt có bao nhiêu từ cái thuần Việt và Hán Việt?, Từ nguyên của cốc (li đựng nước)…”.
            Bài viết đề cập đến từ nguyên của từ gạo, nêu lên một số vấn đề trong nghiên cứu khoa học liên quan đến lịch sử, khảo cổ, ngữ hệ… là “những cứ liệu “ngôn ngữ chi ngoại” luôn luôn chỉ là bằng chứng, chứ dứt khoát không thể thay thế cho những cứ liệu “ngôn ngữ chi nội” được, nếu người ta thực sự muốn đạt đến những kết quả chính xác trong từ nguyên học.”.(6) Mặt khác, đề cập đến cặp từ chết - giết, An Chi muốn đặt lại vấn đề về kết quả nghiên cứu của A. G. Haudricourt về việc chứng minh “phương pháp tạo từ bằng phụ tố trong tiếng Việt cổ, đặc trưng cho các ngôn ngữ Nam Á là không thực tế.”.(7) Vì theo An Chi, đây là một cặp từ Việt gốc Hán.
            Mục trả lời: “Búa trong chợ búa…”, khẳng định một quan điểm mới (đối lập với quan điểm truyền thống) tồn tại trong giới nghiên cứu ngữ học là “âm tiết (tiếng) trong tiếng Việt, trừ những từ phiên âm, đều có nghĩa hoặc vốn có nghĩa”. Nếu thừa nhận quan điểm này thì hàng loạt kết quả trong nghiên cứu từ, hình vị thuộc lĩnh vực từ vựng, ngữ pháp học của quan điểm truyền thống cần phải được xem xét lại. Ngày còn ngồi ở ghế nhà trường, tiếp thu quan điểm của GS. Nguyễn Thiện Giáp, Cao Xuân Hạo…, chúng tôi nhận thức rằng, ông có lí.
            Mục trả lời: “Chiềng trong chiềng làng…” phản biện lại quan điểm xem chiềng trong câu này là một hình thứccông xã nông thôn cổ. Theo An Chi, chiềng làngchiềng chạ thực ra còn đọc là trình làngtrình chạ, còn truyền lại trong nhiều bài giáo trò, chẳng hạn: “Trình làng, trình chạ, Thượng hạ, tây đông. Tứ cảnh hòa trung, Tôi xin giáo trống (…)”.(8) Bằng nhiều dẫn liệu, theo chúng tôi, quan điểm của An Chi trong mục trả lời này đủ sức thuyết phục.
            Các mục trả lời có liên quan đến từ “cái…” xác định các phạm vi ngữ nghĩa của từ trong cả hai hệ thống từ Việt và Hán Việt làm cơ sở nhận diện nhóm những từ có chung trường nghĩa. Còn mục trả lời: “Cào cào và châu chấu” xác định sự khác biệt ngoại diên của từ liên quan đến phương ngữ.
Các mục trả lời khác: “Ăn vóc học hay, Chó nhảy bàn độc, Lúa tốt xem biên, Mèo mả gà đồng, Mười hai bến nước, Nguồn gốc của lối nói ông xã, bà xã, Tại sao gọi là đồng bóng, Tại sao lại nói chim chuột, Thuốc đắng đả tật…”, An Chi đã chịu khó tra cứu từ điển, tích xưa cẩn thận khi đưa ra kiến giải giúp người đọc có được những cách hiểu đúng về các thành ngữ, quán ngữ, từ thông dụng trong đời sống xã hội, trong văn chương. Mục từ nguyênsấu có gốc từ sứu,(9) An Chi vừa phân tích tính tượng hình của loại hình ngôn ngữ ghi ý, vừa dè dặt nêu ra nhận định, phải chăng đây là “ngữ liệu” Hán cổ còn lưu giữ trong tiếng Việt?  
 
(Nguồn: vnmilitaryhistory.net)
4. Nhóm TVBNĐP, có các mục trả lời: “Cả mô là gì?, Lại góp ý và trả lời về thành ngữ bắt cá hai tay, Nói thêm về từ nguyên của Kẻ trong địa danh, Rắn mắt hay rắn mặt?, Tại sao gọi cái rựa (để bửa củi) là đực rựa?, Tại sao gọi làcon giáp? Mỗi con giáp có bao nhiêu năm?, Tại sao trước đây người Nam Bộ gọi người Khmer là đàn thổ?...”.
            Các mục từ trả lời: “cả mô, bắt cá hai tay, rắn mắt, đực rựa, con giáp, đàn thổ” liên quan đến phương ngữ Nam Bộ. Nhìn chung, những ý kiến ông đưa ra phù hợp với cách hiểu của người Nam Bộ, nhưng không phải những lí giải sắc sảo của ông, người Nam Bộ nào cũng phân tích được. Đặc biệt, thành ngữ bắt cá hai tay kèm theo hai từbắt cáthả cá cho người đọc thấy được lối dùng từ xuất phát từ thực tế đời sống của họ. Từ nguyên “kẻ”, tuy chúng tôi xếp vào mục từ Việt (Việt gốc Hán), địa phương (chỉ trong phạm vi miền), nhưng xét về gốc thì từ này và các từ khác nữa (có thể) lại có gốc Hán, như An Chi đã phân tích, chứng minh. Trong bài “Về những địa danh “thuần Việt” thời Hùng Vương”, Huệ Thiên còn đi đến kết luận có thể nói là “táo bạo” có tính “thách thức” giới học giả và các nhà nghiên cứu: “Tóm lại, trong toàn bộ các địa danh Việt Nam liên quan đến địa bàn cư trú của người Việt thời xưa, chắc chắn có những trường hợp là những chữ Hán dùng để phiên âm tiếng bản địa nhưng cũng chắc chắn những trường hợp đó là thật sự ít ỏi. Tuyệt đại đa số thì lại là những địa danh song tiết đặt bằng chữ Hán. Trong số đó, có nhiều địa danh thật sự cổ xưa, thường được gọi tắt bằng một trong hai âm tiết hữu quan, âm tiết này lại được đọc theo âm Hán Việt xưa, khó nhận diện, nên nhiều người, đặc biệt là các học giả và các nhà nghiên cứu, cứ ngỡ rằng chúng là thuần Việt, là Nôm!”.(10) Trong trường hợp này, chúng tôi chưa có khả năng nhận định lập luận của An Chi là đúng hay không, nhưng kiến giải của ông đã thuyết phục chúng tôi. Vấn đề, chúng tôi muốn có được thêm những kiến giải phản biện An Chi mà An Chi đã phản biện.
5. Nhóm HVĐDTD, có bài viết: “Tìm hiểu về hai từ Bụt và Phật”; các mục trả lời: “Nghĩa và xuất xứ địa danh Móng Cái, Nguyễn Hữu Cảnh hay Nguyễn Hữu Kính?, Tên thật của vua Gia Long là Nguyễn Anh hay Nguyễn Ánh?, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam (KHXH, 1991) đã nhất loạt ghi tên các họ Chu và Châu thành ChâuHuỳnh và Hoàngthành HoàngVũ và Võ thành . Làm như thế có đúng hay không?, Xuất xứ của yếu tố Hoa trong Trung Hoa…”.
            Bài tìm hiểu về hai từ Bụt và Phật, như An Chi nhận định đó là sự phiên âm thẳng từ Ấn Độ Buddha thông qua Trung Quốc: “Bụt và Phật là hai cách đọc khác nhau của cùng một chữ Hán mà người ta đã dùng để ghi tiếng phiên âm âm tiết thứ nhất của từ Sanskrit “Buddha”.”.(11) Những phân tích, chứng minh của ông còn bác bẻ các lập luận của giới nghiên cứu. Để phản biện nhận định của Đinh Gia Khánh và Chu Xuân Diên đã viết: “Hai tên gọi khác nhau của Bụt và Phật phản ánh hai con đường du nhập của đạo Phật, một đằng thì trực tiếp từ Ấn Độ sang (Bụt là phiên âm thẳng từ Ấn Độ Buddha); một đằng thì thông qua Trung Quốc (Phật, Phù đồ là âm Hán Việt của các từ ngữ Trung Quốc). Bụt lại là từ ngữ dân gian, còn Phật là từ ngữ bác học.”,(12) An Chi đã làm thống kê một số công trình, như: Tục ngữ Việt Nam của Chu Xuân Diên, Lương Văn Đang và Phương Trì, Hà Nội, 1975; Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam của Vũ Ngọc Phan, Hà Nội, 1971. Cả hai đã cho kết quả lần lượt: Phật xuất hiện 5 lần, Bụt chỉ có 2 lần; Phật xuất hiện 7 lần, còn Bụt chỉ có 2.(13) Ngay cả hai tác giả Thích Minh Châu và Minh Chi, tuy đã có nhận định: “… Tiếng Việt gọi là Bụt hay Phật. Tiếng Bụt phổ thông hơn trong văn học dân gian và là dấu hiệu chứng tỏ: đạo Phật truyền đến nước ta sớm lắm, sớm hơn đến Trung Quốc.”,(14) cũng có lúc đưa ra nhận định phản bác lại chính mình và phản bác luôn cả Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên: “Trong văn học dân gian từ “Phật” được dùng rất nhiều”.(15) Từ thống kế, phân tích ý kiến mâu thuẫn của giới nghiên cứu, An Chi đi đến kết luật ngắn ngọn: “Vậy lẽ ra phải nói Phật “dân gian” hơn Bụt.”.(16) Còn đây là nhân định sắc sảo, “hóm hỉnh” của Huệ Thiên: “Vả lại, nếu quả thật Bụt là từ ngữ dân gian còn Phật là từ ngữ bác học thì người ta phải thừa nhận sự thật sau đây: thời xưa dân gian còn am hiểu ngữ âm hơn cả các học sĩ nữa, bởi cái tai thẩm âm của họ tinh tế hơn của nhà sư và nhà nho rất nhiều. Chả thế mà “Bụt” gần với “Bud(dha)” của tiếng Sanskrit còn “Phật” thì chẳng có gì giống với nó cả: âm đầu, âm chính, âm cuối đều khác nhau (ph ≠ b, â ≠ u và t ≠ d).”.(17)
            Các mục trả lời: “tên, họ, địa danh, tên nước” đều có phân tích, biện luận, nêu chứng cứ trước khi đi đến kết luận. Cung cách làm việc này thật đáng để chúng ta học tập.
6. Nhóm HVĐDĐP, có các mục trả lời: “Góp ý và trả lời có liên quan đến họ Hoàng Huỳnh, Họ Huỳnh với sự kiêng tên của chúa Nguyễn Hoàng…”.
            Mục trả lời này khiến chúng tôi nhớ lại một việc. Gần đây, tôi có nhận một thư gửi đến Hoàng C. T. để thăm hỏi và mời tham gia “phổ hệ” dòng họ Hoàng, do nhóm đại diện dòng họ Hoàng ở Hà Nội đứng ra đề xướng. Lúc đầu tôi định tham gia, nhưng sau nghĩ lại nên thôi: mình họ Huỳnh, chứ nào họ Hoàng. Có thể ông cha mình trước đây mang họ Hoàng, nhưng khi vào Nam theo chúa Nguyễn Hoàng, để “nhớ ơn” mà đổi thành Huỳnh. Vậy sao mình phải đổi họ lại, để “khác họ” với cha ông mình? Tôi rất đồng ý với trả lời của An Chi khi có ai đó đề nghị ông “Vậy phải chăng ta nên có mấy dòng đính chính hoặc xin lỗi đối với họ Hoàng-Huỳnh này?” An Chi đáp: “Họ người ngoài khía cạnh tông tộc, còn có cả khía cạnh xã hội. Mà về mặt xã hội thì đã rõ Huỳnh và Hoàng là hai họ riêng biệt và độc lập với nhau. Việc làm cho người ngoài hiểu đúng mối quan hệ huyết thống của dòng họ Hoàng - Huỳnh mà ông đề cập thì lại không thuộc về trách nhiệm của chúng tôi. Chúng tôi chỉ có bổn phận phải xin lỗi khi nào có người trong dòng họ đó ký Huỳnh X chẳng hạn, mà chúng tôi lại tự tiện đổi thành Hoàng X, hoặc khi nào có người trong dòng họ đó ký Hoàng Y chẳng hạn, mà chúng tôi thì lại tự tiện đổi thành Huỳnh Y.”.(18)
7. Nhóm HVBNTD, có bài viết: “Chữ vằn liền với chữ văn một vần, Sự tích ngày Rằm tháng Bảy và xuất xứ của hai tiếng Vu lan, Từ nguyên của bù nhìn”; các mục trả lời: “Ăn như hạm: hạm là gì?, Cái thẹp là cái gì? Đâu là xuất xứ của từ này?, Con lân là con gì? Tại sao trong Nam nói múa lân mà ngoài Bắc lại nói múa sư tử?, Cổ bồn là gõ chậu hay là gõ nhạc khí?, Dựng vợ gả chồng: dựng là gì?, Đầu cua tai nheo: tai là gì?, Khỏe như vâm: vâm có phải là voi? Đâu là xuất xứ của từ này?, Lái trong lái buônmối lái có phải là một với lái trong lái thuyềnlái đò không?, Nguồn gốc của hai tiếng ba hoa, Phu khiêng đòn đám ma là đô tì hay đô tùy?, Tại sao gọi là ông táo?, Tại sao lại nói giao thừa? Có phải do nói trại hai tiếng giao thời?, Tại sao lại dùng thị làm tiếng lót để đặt tên cho phụ nữ?, Tại sao lại nói quay tít thò lò? thò lò là gì?, Tạo hóa và tạo vật là một hay hai?, Té lăn cù:  là gì?, Từ nguyên của heo và may tronggió heo may, Từ nguyên của máy móc, Từ nguyên của mưỡu, Từ nguyên của quà và cáp trong quà cáp, Từ nguyên của vía...”.
            Ba bài viết trong “Những tiếng trống qua cửa các nhà sấm” về hai tiếng vằn và vănvu lan và bù nhìn cho thấy trước khi đưa ra kiến giải, Huệ Thiên đã phân tích từ nguyên khá cẩn thận, chẳng hạn:
            Để chứng minh văn và vằn có liên quan về nghĩa, Huệ Thiên đã liệt kê 23 nghĩa của chữ văn trong Hán ngữ đại từ điển (Thành Đô 1993), trong đó có nghĩa liên quan đến vằn: “lằn, sọc, vằn, nét…”, rồi tra Từ hải bản tu đính 1989 thì thấy 4 nghĩa của chữ văn được sắp xếp rất hợp lí như sau: “Văn: 1. Vằn, sọc, đường, nét…, 2. Hoa văn (đường nét trang trí), 3. Văn tự, chữ viết (“đường nét” để ghi tiếng nói), 4. Văn chương.”.(19) Cũng theo ông, cách đọc Hán Việt của chữ văn có đến 3 âm được sắp xếp theo thứ tự thời gian từ xa nhất đến gần nhất như sau: vằn - văn - vân. Như vậy, vằn là âm Hán Việt xưa hơn văn. Ba chữ này được Từ điển tiếng Việt 1992, ghi nhận như sau:
            Văn: Hình vị góp phần tạo ra hàng loạt tổ hợp hai tiếng, có 52 trường hợp, liên quan đến văn hóa, văn học, văn bản, văn bài … văn võ, văn xuôi…
Vằn: “Vệt màu hình cong lượn song song trên lông một số loài thú (nói tổng quát)”.
            Vân: “Đường cong lượn song song hình thành tự nhiên trên mặt gỗ, trên mặt đá hay ở đầu ngón tay”.(20)
            Từ những dẫn liệu trên, Huệ Thiên đi đến kết luận có tính khái quát về hiện tượng từ nguyên của các từ Việt gốc Hán: “Lâu nay nhiều người cứ ngỡ rằng trong hệ thống Hán Việt, chữ “văn” chỉ có âm “văn” chứ không ngờ rằng nó còn có cả âm” vằn” và âm “vân” mà” vằn”, với nghĩa đã nói có lẽ là hiện tượng bất ngờ nhất. Thực ra, nếu đi sâu vào từ nguyên của các từ Việt gốc Hán thì người ta sẽ còn khám phá ra nhiều điều thú vị khác nữa.”.(21)
Khái niệm Vu lan, dạng tắt của Vu lan bồn, được dịch âm từ chữ Sanskrit Ullabana của một số nhà nghiên cứu mà theo ông “…từ Sanskrit này đã bị viết sai. Vậy không biết ở đây, hai tác giả muốn nói đến danh từ Sanskrit nào, nhưng cứ theo dạng sai chính tả đã thấy thì có thể luận ra rằng đó là một trong hai từ sau đây: ullambana hoặc ullambhana.”.(22) Từ sự phân tích, tác giả đi đến kết luận: “Vậy “ullambhana” có nghĩa là sự giải thoát. “Ullambhana” được phiên âm sang Hán ngữ bằng ba tiếng đọc theo âm Hán Việt là “Vu lan bồn”. “Vu lan bồn” được nói tắt thành “Vu lan”. Vậy “Vu lan” là sự giải thoát. Xuất xứ của nó là danh từ Sanskrit “ullambhana”. Đây là từ thứ hai trong hai từ mà chúng tôi đã suy đoán ở trên. Trong cấu tạo của từ này, tuyệt nhiên cũng không có một thành tố nào mà về ngữ nghĩa lại có liên quan đến hiện tượng “treo ngược” cả.(23) Dầu kết luận vậy, nhưng tác giả vẫn dè dặt và khiêm tốn viết thêm: “Trở lên, dù sao cũng chỉ là ý kiến thô thiển của cá nhân. Nó đúng hay sai thì còn phải chờ ở sự thẩm xét của các nhà chuyên môn, trước nhất là các nhà Phật học và các nhà Phạn học.”(24)
Từ bù nhìn, lâu nay giới từ vựng – ngữ pháp học đều nhìn nhận đây là “2 tiếng vô nghĩa tạo nên từ”. Chúng tôi được học quan điểm này; nhưng khi giảng về Ranh giới từ vựng tiếng Việt, theo quan điểm không truyền thống “mỗi tiếng là từ”: tuy chúng tôi không chứng minh được từng thành tố nghĩa bù, nhìn; nhưng chúng tôi vẫn cho rằng, phải xem đây là sự kết hợp 2 từ có nghĩa, thì thuận trong tương quan hệ thống tiếng Việt hơn sự nhìn nhận đây là 2 tiếng vô nghĩa hợp thành từ đa âm có nghĩa. Nay trong quá trình khảo cứu, Huệ Thiên đã đưa ra các nguyên từ (etymon) cho từ nguyên bù nhìn, gồm: “bồ nhân, phù nhân, mạo nhân, mộc nhân, môn nhân” và chọn nguyên từ môn nhân để phân tích sự tiến triển ngữ âm, ngữ nghĩa: Môn nhân (âm xưa mùn nhìn) có hiện tượng chuyển dịch âm:môn > mùn > mùnhân > nhin > nhìn, chuyển dịch nghĩa: người gác cửa > hình người bằng rơm đóng vai trò của người trông coi ruộng nương để dọa chim chóc. Kết luận của ông “xin mạo muội nêu ra để thỉnh giáo ở các nhà chuyên môn”, tuy chưa thể nói là thuyết phục được hết giới chuyên môn, nhưng ông đã giúp cho những người theo quan điểm “mỗi tiếng là từ” (trừ tiếng phiên âm) có thêm “ánh sáng” trên đường đi tìm chân lí khoa học.
Các mục trả lời có liên quan đến các từ: “như hạm, cái thẹp, con lânmúa lânmúa sư tửcổ bồndựng vợ,tai nheo, như vâmlái buônmối láilái thuyềnlái đòba hoađô tìđô tùyông táogiao thừathị (tiếng lót), thò lò,tạo hóatạo vậtlăn cùheo maymáy mócmưỡuquà cápvía…”, tuy không thỏa mãn hết mọi trường hợp, nhưng phần lớn trường hợp, tác giả có những phân tích thấu đáo, dẫn chứng hợp lí, nên chúng tôi cảm thấy thỏa mãn với hầu hết những kết luận của ông.
8. Nhóm HVBNĐP, có các mục trả lời: “Ba và  trong tiếng miền Nam có phải là gốc Pháp?, Nguồn gốc của hai tiếng thổ mộ trong xe thổ mộSui gia và thông gia có khác nhau không?…”.
            Mục trả lời bác bỏ ý kiến cho rằng, từ ba, má có nguồn gốc Pháp, chúng tôi cho là hợp lí. Còn cách lí giải của ông về cụm từ xe thổ mộ, có mui na ná như ngôi mộ đất, cung cấp cho người đọc một điều thú vị về lối định danh đơn giản, nhưng gắn với thực tế mà trong nhiều trường hợp người Nam Bộ dùng để gọi tên sự vật, như: xe kiếng, bến bạ, kinh đòn dông, kinh ruột ngựa, dinh xã Tây, đàng Thổ, đồng chó ngáp, hạng cá kèo…
9. Nhóm NNKĐDTD, có bài viết: “Từ nguyên của Noёl và Christmas”; các mục trả lời: “Địa danh Đà Lạt có phải là do một câu bằng tiếng La Tinh mà ra?, Phù Nam có phải là tên phiên âm từ tiếng Khmer phnom (núi)? Tại sao lại gọi tên một nước bằng một từ có nghĩa là núi?, Tại sao Sa Tăng có công bảo vệ Đường Tam Tạng đi thỉnh kinh mà lại có câu chửi đồ quỷ Sa Tăng?, Tại sao trước đây Thái Lan được gọi là Xiêm hoặc Xiêm La? Tại sao lại đổi thành Thái Lan? Các tên đó có ý nghĩa gì?...”.
Bài viết về từ nguyên Noёl và Christmas được phân tích cặn kẽ, chi tiết, giúp người đọc có được những hiểu biết chính xác liên quan đến những chữ thông dụng trong dịp lễ Giáng sinh - 25/12, một ngày lễ trở nên phổ biến với nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Các mục trả lời về địa danh, tên nước, tên người được tác giả phân tích cẩn thận trước khi đưa ra ý kiến riêng của mình.
10. Nhóm NNKĐDĐP, có bài viết: “Từ nguyên của địa danh Sài Gòn”.
            Vấn đề từ nguyên của địa danh Sài Gòn và một số từ nguyên địa danh khác ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long có thể phải lí giải theo hướng của Huệ Thiên là, các tên địa danh nghi ngờ có sự phỏng âm theo địa danh của tiếng Khmer. Tên gọi “Sài Gòn không phải là cái tên đầu tiên mà những lưu dân Việt Nam đầu tiên đã đặt ra một cách tùy hứng để chỉ cái xứ mà họ đặt chân đến là xứ rừng “Prej Nokor”. Cái nét đặc thù kia (đồn lũy chung quanh có gòn) cũng không phải là đã được họ khám phá ra liền lúc bấy giờ.”.(25) Rồi sự cộng tồn giữa tên Nôm và tên chữ sẽ giúp cho hình thức nào đó dễ định hình, do bị thu hút vào hệ thống.
11. Nhóm NNKBNTD, có bài viết: “Hằm pà làng và trăm thứ bà giằn, Tìm hiểu câu thần chú Án ma ni bát mê hồng”; các mục trả lời: “A lan nhã là gì và có phải là gốc ở tiếng Sanskrit không?, Nam mô A Di Đà Phật nghĩa là gì và xuất xứ từ đâu? A men và A lê lui a là gì?, Nước cam lồ là nước gì?, Ren, ruaren có phải do tiếng Pháp dentelle và ruado ajour?, Tại sao gọi là La Hán? Có 16 vị hay là 18 vị?, Tại sao cứ phải dùng lô gích mà không dùng một từ nào thuần Việt?...”.
            Bài viết “Hằm pà làng…” trong Những tiếng trống qua cửa các nhà sấm, đã phản biện một quan niệm cho rằng, nó là một từ Việt chính tông từ một từ đơn tiết [mblan] được tách ra thành 3 tiếng và đó là dấu chỉ về mối quan hệ nguồn gốc của các ngôn ngữ Việt Mường. Theo Huệ Thiên thì nó là tiếng Quảng Đông, ghi thật chính xác bằng chữ Quốc ngữ Việt Nam thì đó là Hằm pà làng. Còn bà giằn < bà giằng < bà rằng của tiếng Việt đều bắt nguồn từ tiếng Mã Lai barang có nghĩa là đồ dùng. “Sự xuất hiện của mỗi từ trong từng thứ tiếng trên đây là kết quả của những cuộc giao thương diễn ra ở miền duyên hải Quảng Đông và Bắc Việt Nam; tại đó và trong những dịp đó, tiếng Quảng Đông và tiếng Việt đã thường xuyên tiếp xúc với tiếng Mã Lai… Có thể nó mới nhập tịch được vào từ vựng của hai ngôn ngữ này mà tiếp tục tồn tại mãi cho đến tận ngày nay.”.(26) Còn câu thần chú Án ma ni bát mê hồng là cách đọc theo âm Hán Việt của sáu chữ Hán mà người Trung Hoa đã dùng để ghi cách phiên âm của câu thần chú gốc bằng tiếng Sanskrit. Theo Huệ Thiên, câu này có nghĩa: “Úm, ngọc báu trong hoa sen, hum! Đương nhiên là kèm theo phải có một sự giải thích cần thiết và rành mạch về nguồn gốc cũng như về ý nghĩa của “úm” và của “hum”…”.(27)
            Các mục trả lời về các từ phiên âm các lĩnh vực tôn giáo, khoa học, từ dùng được ông truy tìm gốc từ và ngôn ngữ cẩn thận. Chúng tôi cũng không khẳng định được hết tính đúng đắn đến đâu; nhưng hướng phân tích của ông, chúng tôi cảm thấy chấp nhận được.
12. Nhóm NNKBNĐP, có các mục trả lời: “Bổ sung cho câu trả lời về từ lạc xoong…, Hai tiếng cu li (bi, đạn) bắt nguồn từ đâu?, Lại nói về nguồn gốc hai tiếng bánh ít, Mút chỉ cà tha: cà tha là gì và hai tiếng này bắt nguồn từ đâu?,Phú de là gì?, Vít vồ là gì?, Xuất xứ của tên gọi Ba Son, Xuất xứ của hai tiếng mã tàY chang có phải là do y trạngmà ra hay không?…”.
            Vì là người Nam Bộ, các mục từ ông đề cập chúng tôi đã nghe quen, biết nghĩa; nhưng nắm bắt đến tận ngọn nguồn thì nhờ ông chúng tôi mới rõ. Chẳng nhạn, từ: “lạc xoong, phú de, cà tha…”. Riêng từ Ba Son, không rõ cách giải thích của ông, dân Sài Gòn cố cựu có đồng ý không nữa và cả bánh ít nữa, người Nam Bộ nghĩ sao?.
            Riêng trong quyển Những tiếng trống qua cửa các nhà sấm, Nxb. Trẻ, 2004, thoạt đầu chúng tôi không rõ tên tựa quyển sách lắm. Nhưng đọc xong quyển sách, chúng tôi hiểu được thâm ý của tác giả. Trong công trình này, Huệ Thiên chia vấn đề ra thành 6 nội dung. Ngoài nội dung Những mẩu từ nguyên, chúng tôi đã bàn ở phần trên, còn 5 nội dung chúng tôi muốn điểm qua, gồm: Một chút ngữ vănVài trang lịch sửMười hai con giápĐọc sách đọc báoMấy bài trả lời.
            Phần Một chút ngữ văn, ông có 3 bài phân tích thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Trãi, Tuệ Trung Thượng Sĩ, theo thiển ý chúng tôi là hết sức sắc sảo. Chúng tôi hiểu thêm một số vấn đề về cuộc đời Nguyễn Bỉnh Khiêm và chính kiến ông với thời cuộc và nhà Mạc.
Chúng tôi hiểu thêm 4 câu thơ (2 câu thực và 2 câu luận) trong bài Trần tình thứ 3 của Nguyễn Trãi: “Cơm kẻ bất nhân ăn ấy trớ (trớ: sai); Áo người vô nghĩa mặc chăng thà (thà: đúng).” (không phải “chớ” như trước đây đã hiểu). Chúng tôi đã học nhiều lần hai câu thơ ấy, nhưng nay vẫn học được thêm ý hay mà ông phân tích. Hai câu thơ không để khuyên ai khác mà để nói với chính mình. Đó là tâm tư sâu lắng của Nguyễn Trãi trước bi kịch mà cả Lê Thái Tổ (Lê Lợi) và Lê Thái Tông (Lê Nguyên Long) đã gây ra cho ông. Theo An Chi, sang hai câu luận, ông còn cẩn thận nhắc đến vua và cha (Khỏi triều quan mới hay ơn chúa. Sinh được con thì cảm đức cha.) thì câu luận đầu là một lời mỉa mai chua chát và cay đắng và cũng là một lời chỉ trích sâu sắc và khéo léo. Do vậy, chúng tôi rất tán thành kết luận sau đây của Huệ Thiên về bài thơ trên của Nguyễn Trãi: “Sau hai lần sáng mắt, biết rõ lòng dạ của vua cha Lê Lợi và vua con Lê Nguyên Long, Nguyễn Trãi mới làm bài Trần tình 3 này. Trong hai câu thực của bài thơ, ông đã tỏ ra hối tiếc trước sự thật phũ phàng. Ông tự thấy trước kia mình hưởng lộc của Thái Tổ đã là sai mà sau đó, lại hưởng tiếp lộc của Thái Tông thì lại càng không đúng.”(28)
 
(Nguồn: sachxua.net)
Trước đây, học thơ Lý - Trần, chúng tôi thấy hay, nhưng nhiều nhận thức chưa tới vì không nắm rõ được tình hình xã hội lức bấy giờ; hơn nữa, nhận thức cuộc đời chưa sâu sắc. Nay được Huệ Thiên phân tích, chúng tôi mới cảm nhận được một Tuệ Trung Thượng Sĩ uyên thâm về thiền học, nhưng tiếc cho một tài kinh bang tế thế lừng danh của Hưng Ninh Vương Trần Tung không được triều đình trọng dụng. Huệ Thiên nêu bài thơ Dưỡng chân (Nuôi dưỡng chân tính), cho ta thấy được cái duyên cớ làm cho ông phải xa lánh chốn quan trường mà đi vào cõi thiền:
Suy táp hình hài khởi túc vân
Phi quan lão hạc tị kê quần
Thiên thanh vạn thúy mê hương quốc
Hải giác thiên nhai thị dưỡng chân.”
(Thân xác hao gầy há đáng than
Phải đâu hạc cả lánh gà đàn
Nghìn xanh muôn thúy mờ non nước
Góc biển lưng trời: nơi dưỡng chân.) An Chi dịch
            Huệ Thiên dẫn thêm bài thơ khác, bài Giản để tùng (Cây tùng ở đáy khe), cho thấy nhận định của ông về Tuệ Trung, một con người giỏi về quân sự, chính trị lẫn ngoại giao; nhưng cái tài lương đống của ông gặp phải sự đố kỵ, nên ông thành một con người bất đắc chí:
Tối ái thanh tùng chủng kỉ niên
Hưu ta địa thế sở cư thiên
Đống lương vị dụng nhân hưu quái
Dã thảo nhàn hoa mãn mục tiền
(Thương cội tùng xanh tuổi bấy niên
Đừng than thế mọc lệch cùng xiên
Cột rường chưa dụng người thôi lạ
Cỏ dại hoa hèn trước mắt chen.) An Chi dịch
            Ngoài ra, Huệ Thiên còn viết 3 bài về ngữ học rất đáng được giới ngữ học lưu ý: “Sai lầm căn bản trong kiến giải của A. G. Haudricourt về phổ hệ của tiếng Việt; Tại sao một số thành ngữ, tục ngữ lại khó hiểu?; Hiện tượng láy xét về phương diện lịch sử.”
            Bài “Sai lầm căn bản trong kiến giải của A. G. Haudricourt…” phản biện lại kiến giải về quan hệ ngữ tộc của tiếng Việt mà A. G. Haudricourt cả quyết rằng nó là một ngôn ngữ Nam Á. Cũng có nhiều người theo quan điểm này. Nhưng sau những phân tích, Huệ Thiên đi đến kết luận theo H. Maspéro, nó là một ngôn ngữ Thái. Thừa nhận điều này, người ta đi đến một giả thuyết như Vương Hoàng Tuyên mà Huệ Thiên đã dẫn ra: “Trên đồng bằng Bắc Bộ, xưa kia là nơi cư trú của một giống người nói tiếng Môn - Khơme thì có một sự di cư to lớn của một lớp người nói tiếng Thái ở Tây Nam Trung Quốc tràn qua.”. Và ông kết luận: “Chính ngôn ngữ Thái này đã thay thế cho ngôn ngữ Môn - Khmer kia để trở thành tiếng Việt ngày nay.”.(29) Hiện nay, vẫn chưa ngã ngũ về quan điểm, nhưng nếu chọn quan điểm này, các nhà nghiên cứu phải nhìn nhận lại nhiều vấn đề: ngữ âm, từ vựng, ranh giới hình vị, từ… của tiếng Việt.
            Bài “Tại sao một số thành ngữ, tục ngữ lại khó hiểu?”, Huệ Thiên đưa ra 6 nguyên nhân: từ cổ, bị tách khỏi môi trường, từ nguyên dân gian làm méo mó, không nhận ra được phương thức cấu tạo, sự cố ngôn ngữ, người viết vô tình hoặc cố ý bóp méo thành ngữ, làm cho thành ngữ trở nên khó phân tích nghĩa, cần báo động nhất là nguyên nhân sau cùng. Ông có một kết luận chí lí: “Sự phân tích những nguyên nhân đó bằng những dẫn chứng cụ thể đã chứng tỏ rằng chúng không phải khó hiểu ngay từ đầu mà chỉ trở nên khó hiểu theo thời gian.”. Vì đó là lối nói của kẻ dân dã.(30)
Bài “Hiện tượng láy xét về phương diện lịch sử”, Huệ Thiên dẫn ra 100 trường hợp cho thấy yếu tố mà một số nhà ngôn ngữ cho là “yếu tố vô nghĩa của dạng láy”, thật ra chúng có nghĩa. Như vậy, vấn đề loại từ này và những công trình “ăn theo” cần được nhìn nhận nghiêm túc, xem chúng có giá trị khoa học gì không. Vì theo An Chi “Hy vọng dựa vào chúng để miêu tả một phương thức tạo từ mà nhiều tác giả người Việt Nam cứ ngỡ là phương thức độc đáo của tiếng Việt (và các ngôn ngữ đơn lập khác) còn một số tác giả Âu, Mỹ thì say mê như món lạ “outre-mer”, hy vọng đó rất hão huyền!”.(31)
Phần Vài trang lịch sử, có 2 bài viết mà chúng tôi quan tâm, đó là: Hùng Vương hay Lạc Vương?, Về những địa danh “thuần Việt” thời Hùng Vương.”
Bài Hùng Vương hay Lạc Vương? Nói về sự nhầm lẫn từ Lạc Vương thành Hùng Vương. Người đầu tiên phát hiện sự nhầm lẫn này theo Đào Duy Anh là H. Maspéro. Nhiều nhà nghiên cứu trước đây qua các thời kì cũng đã thấy sự nhầm lẫn coi như đã rõ ràng. Thế nhưng, có nhà khoa học lại chứng minh sự nhầm lẫn mà nhiều người nhìn nhận, là không nhầm, nói khác đi là đúng. Người ấy muốn “tiếp cận vấn đề Hùng Vương từ ngả đường ngôn ngữ học”. Đặt lại vấn đề, Huệ Thiên muốn phản biện những chứng minh thiếu cơ sở khoa học của nhà khoa học này. Không rõ khi ông còn sống, ông suy nghĩ những phản biện của Huệ Thiên ra sao; nhưng vấn đề đặt ra, An Chi muốn kết luận như một số nhà khoa học trước đây đã thấy sự nhầm lẫn và cũng muốn nói: “Chúng tôi mạo muội mường tượng rằng nếu các đấng tiên nhân của chúng ta biết đến cái lập luận của người hiện đại trong việc cố gắng duy trì danh hiệu “Hùng Vương” thì hẳn các vị sẽ nhắn nhủ với di duệ của mình: “Chúng ta là con cháu đức “Lạc Long Quân”, thuộc nòi giống “Lạc Việt”, lại làm “vua” của Lạc dân (= dân Lạc) nơi xứ sở của Lạc điền (= ruộng Lạc) có các “Lạc hầu” và “Lạc tướng” trông coi mà bị gọi là “Hùng Vương” thì không thú vị lắm! Hãy cho chúng ta được về nguồn mà gọi chúng ta là “Lạc Vương”.”. (32)
            Bài Về những địa danh “thuần Việt” thời Hùng Vương phản bác ý kiến muốn dựa vào những địa danh được cho là “thuần Việt”, là “Nôm” để vẽ lại cương vực của nước Văn Lang thời các vua Hùng. Trong bài, An Chi cho rằng chúng chỉ là âm xưa của những chữ Hán, nay đã được đọc theo âm Hán Việt hiện đại mà thôi. Từ những phân tích phản biện của mình và những dẫn liệu được trưng ra khá nhiều (có nhiều bài ông nói về từ “kẻ” trong hàng loạt địa danh cổ ở miền Bắc, như “Kẻ Chợ, Kẻ Cót, Kẻ Mẩy, Kẻ Sắt, Kẻ Sặt, Kẻ Vòng…”.), Huệ Thiên cho rằng, “sự phân biệt thành “tên Nôm” và “tên chữ” như Hoàng Thị Châu và nhiều người khác đã chủ trương chỉ là một sự phân biệt giả tạo.”.(33) Mặt khác, An Chi cũng thừa nhận: “Vậy có lẽ nào trong toàn bộ hệ địa danh Việt Nam lại không có những trường hợp dùng tiếng Hán để phiên âm tiếng bản địa? Chúng tôi tuyệt nhiên không cho là không có. Chỉ xin nhấn mạnh rằng đó là những trường hợp cần được phân tích một cách thật sự cẩn trọng vì thực ra yếu tố được phiên âm chưa hẳn đã là yếu tố Việt đích thực, vì đã nói đến địa danh phiên âm thì con đường diễn tiến lắm khi lại rất quanh co.”.(34)
Phần Mười hai con giáp, Huệ Thiên viết từ những dịp xuân về, khởi đầu từ Xuân Quý Dậu, 1993, ông viết về con gà, đến Xuân Giáp Thân, 2004, ông nói về con giáp thứ chín, con khỉ. Trong mười hai bài viết về các con giáp, ông phân tích từ nguyên, ngữ âm, ngữ nghĩa, các cách nói thành ngữ, tục ngữ…, liên quan đến các con giáp. Loạt bài này thú vị. Nó cung cấp cho chúng ta những kiến thức chung rất bổ ích về những con giáp cầm tinh của năm. Dạng bài này hằng năm khi xuân về cũng có nhiều người viết. Nhưng để đạt tới mức phân tích sâu, đòi hỏi người viết phải có vốn Hán học, sự tra cứu từ điển, sách ngoại vi cẩn thận, đầy đủ mới có thể viết được.
Mục Đọc sách đọc báo, Huệ Thiên viết rất nhiều bài. Trong đó, ông đóng góp, nhận xét những sai sót của các bài viết, công trình của nhiều cá nhân, tựu trung trên bình diện chữ nghĩa, ngôn từ; ông phản biện những luận điểm mà ông cho rằng nó thiếu cơ sở khoa học. Việc làm của ông, nhìn chung, theo suy nghĩ chúng tôi sẽ có được sự điều chỉnh ở người viết và giúp người đọc có được những cơ sở để xem xét nhìn nhận vấn đề có tính khoa học hơn. Trong những bài nhận xét của Huệ Thiên, chúng tôi nhận thấy giọng văn, lời lẽ ông chừng mực, cung cách chấp nhận được.
Có những sự trao đổi lại từ phía người viết được góp ý, ông tôn trọng người viết nên có bài trả lời chân tình, cởi mở. Những bài này nằm rải rác trên các báo, tạp chí. Trong Những tiếng trống qua cửa các nhà sấm cũng có mục Mấy bài trả lời.
Hai mục này, cả những chuyên mục khác, về vấn đề “tranh luận” nhìn từ khía cạnh tích cực: An Chi có đóng góp rất nhiều cho nghiên cứu khoa học, nhất là khoa ngữ học. Mặt khác, sẽ tốt cho người viết, cả người đọc; vì khi đưa ra luận điểm, An Chi không lí luận suông mà bao giờ ông cũng “nói có sách, mách có chứng”. Không chỉ một dẫn chứng mà nhiều dẫn chứng. Không chỉ dẫn từ một nguồn mà nhiều nguồn, nhiều mặt. Vấn đề luôn được ông lật qua lật lại, xem tới xem lui cẩn thận, chu đáo. Điều này giúp ích cho người được góp ý, lẫn người không được góp ý. Tất nhiên, không thể An Chi đúng hết. Nhưng ông có bao giờ cho là mình đúng hết đâu. Vì vậy, thường cuối mỗi bài An Chi cẩn thận, dè dặt “xin mạo muội nêu ra để thỉnh giáo…” “nó đúng hay sai thì còn phải chờ ở sự thẩm xét của các nhà chuyên môn…”... Có lúc ông có những kết luận “vui vẻ”, nhưng cũng không quá lời với ai.
Mặt khác, trong khoa học, ai cũng đề cao tranh luận, vì tranh luận là đường đến khoa học. Có điều, sẽ có sự “đụng chạm” - sự đụng chạm, nhìn nhận trên bình diện khoa học, chẳng có gì để gọi là “mích lòng”; nhưng người ta đưa vào đời tư thì quả không vui. An Chi biết thế, nhưng không thể làm khác được, vì sở học ông có cho việc nghiên cứu, luôn đòi hỏi ông “tính nghiêm túc” trong tranh luận. Đó là cung cách An Chi.
Nhìn chung, những bài trao đổi, phản biện của An Chi chứa đựng sự uyên bác trong kiến thức, vững vàng trong lập luận, rất đáng để học tập, nghiên cứu, đó là các bài “Cải chính những chỗ phiên Nôm sai…”, “Chung quanh từ nguyên của “gạo””, “Cung cách “giải mã” từ cổ…”, “Hiện tượng láy…”, “Mười điều nhận xét…”, “Những chỗ dịch sai…”, “Những chỗ sai khó ngờ…”, “Trả lại cho Nguyễn Du…”, “Từ nguyên của “bù nhìn””, “Về một đứa con tinh thần…”, “Về những địa danh “thuần Việt””, “Không thể không là cái đa đa”… Các bài này mang lại cho chúng tôi một lượng kiến thức lớn mà việc học ở nhà trường không thể có được.
Năm 60 tuổi, An Chi có làm bài tự vịnh với hai câu kết: “Mơ màng chi đến màu danh lợi, Rồi ra cũng một mớ phù vân.” (1995). Cả đời ông theo đuổi nghiệp tự học, không phải để tranh danh lợi, phù vân; ông chỉ muốn góp mặt với đời bằng vốn kiến thức ông thu nhặt, tích cóp được từ cuộc đời. Con đường đi tìm kiến thức của ông, theo chúng tôi, là cái đáng để chúng ta lấy đó làm gương. Nếu có lời khuyên cho các bạn trẻ học sinh, sinh viên, tôi cũng khuyên các bạn nên tìm học những loại kiến thức bổ ích này và xác định đúng con đường đi tìm kiến thức cho mình.
Kết thúc bài viết, chúng tôi muốn mượn lời Giáo sư Cao Xuân Hạo, một lần nữa, xin đánh giá về An Chi: “… Thời nay không có ai có thể tự cho mình là “nhà bách khoa” cái gì cũng biết, nhưng những câu trả lời của anh trên tạp chí đã làm thỏa mãn được phần đông độc giả vì đó đều là kết quả của một quá trình tra cứu nghiêm túc, đầy tinh thần trách nhiệm đối với khoa học và đối với những người đã có lòng tin cậy mình. Thêm vào đó là lời văn trong sáng, đĩnh đạc, nhiều khi dí dỏm một cách nhã nhặn và tuệ minh, làm cho việc đọc anh trở thành một lạc thú thanh tao…”.(35)
Chú thích:
1. An Chi, Chuyện Đông chuyện Tây, Nhà xuất bản Trẻ, TP. Hồ Chí Minh, tập 1, 2, 3, 4…, 2005.                                    
2. Cao Xuân Hạo, An Chi, sđd, tập 1, tr. 21.
3. An Chi, sđd, tập 1, tr. 25.
4. Huệ Thiên, Những tiếng trống qua cửa các nhà sấm, Nhà xuất bản Trẻ, TP. Hồ Chí Minh, tr. 188.
5. An Chi, sđd, tập 4, tr. 241.
6. Huệ Thiên, sđd, tr. 222.
7. Huệ Thiên, sđd, tr. 236.
8. An Chi, sđd, tập 2, tr. 357.
9. Huệ Thiên, sđd, tr. 237-239.
10. Huệ Thiên, sđd, tr. 155.
11. Huệ Thiên, sđd, tr. 199.
12. Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Văn học dân gian, tập 1, Hà Nội, 1972, tr. 197.
13. Huệ Thiên, sđd, tr. 196-197.
14. Thích Minh Châu, Minh Chi, Từ điển Phật học Việt Nam, Hà Nội, 1991, tr. 108.
15. Thích Minh Châu, Minh Chi, sđd, tr. 526.
16. Huệ Thiên, sđd, tr. 196-197.
17. Huệ Thiên, sđd, tr. 197.
18. An Chi, sđd, tập 1, tr. 340-341.
19. Huệ Thiên, sđd, tr. 242.
20. Hoàng Phê chủ biên, sđd, tr. 1078-1080, 1082.
21. Huệ Thiên, sđd, tr. 244-245.
22. Huệ Thiên, sđd, tr. 210.
23. Huệ Thiên, sđd, tr. 212.
24. Huệ Thiên, sđd, tr. 212.
25. Huệ Thiên, sđd, tr. 176.
26. Huệ Thiên, sđd, tr. 204.
27. Huệ Thiên, sđd, tr. 193.
28. Huệ Thiên, sđd, tr. 23.
29. Huệ Thiên, sđd, tr. 50.
30. Huệ Thiên, sđd, tr. 71.
31. Huệ Thiên, sđd, tr. 85.
32. Huệ Thiên, sđd, tr. 127.
33. Huệ Thiên, sđd, tr. 154.
34. Huệ Thiên, sđd, tr. 154.
35. Cao Xuân Hạo, Lời tựa, An Chi, sđd, tập 1, tr. 24.
Nguồn: Từ điển học & Bách khoa thư, số 2 (22). 3/2013