Sunday, 20 May 2012

Chũ "bị" và con đường Việt hóa các từ gốc Hán (Lê Xuân Mậu)

Tác-giả: Lê-Xuân-Mậu
(Tạp chí Tài hoa trẻ)
Một chút lai lịch
Đúng ra thì phải “vẽ” ra cái chữ Hán này để khỏi lầm với ít nhất là ba, bốn chữ khác cũng đọc là “bị” (theo các ông Đào Duy Anh và Nguyễn Văn Khôn) nhưng làm thế là không cần lắm với nhiều bà con mình. Cái chữ “bị” nói đến ở đây thực ra có đến ba nghĩa. Hai nghĩa khác ta không đưa vào tiếng Việt là: cái mềm, khắp đến. Còn nghĩa “chịu, mắc phải” xin được nói sau.
Một điều đáng nói nữa là cái chữ này có tới hai cách đọc khi sang Việt Nam theo phát hiện của ông Nguyễn Tài Cẩn (*). Đó là cách đọc “bị” và cách đọc “phải” mà ta thường cho là thuần Việt.
Một bước tiền trạm
Theo ông Nguyễn Tài Cẩn, xưa kia tiếng Việt chưa có hình thức diễn đạt sắc thái đánh giá tiếp nhận tốt xấu, hoặc may rủi. Người ta đã mượn của tiếng Hán yếu tố được một hình thức phát âm một chữ, sau này âm Hán Việt đọc là đắc (đắc thắng, đắc ý, đắc cử…) để diễn đạt sắc thái đánh giá “tốt, may”: được khen, làm được… Và họ mượn yếu tố phải để diễn đạt sắc thái đánh giá xấu, rủi: phải phạt, giẫm phải gai…
Sự việc đó diễn ra trước khi có âm Hán Việt (mượn từ thời Đường) nên thường các chữ “được”, “phải” đều coi như từ thuần Việt. Khi đã có anh em sinh đôi (phải) diễn đạt ý nghĩa đánh giá tiếp nhận “rủi, xấu” thì bị không được mượn vào tiếng Việt nữa (vì không cần). Bị chỉ được mượn vào tiếng Việt với tư cách là một từ tố nằm trong vài từ ghép như bị cáo, bị động, (số) bị trừ, (số) bị nhân…
Đến lúc phải vào
Đó là tình hình trước đây chừng vài ba thế kỷ, sau đó thì bị phải vào, tức là tiếng Việt phải mượn nó để diễn đạt ý nghĩa đánh giá sự tiếp nhận “xấu, rủi”. Tại sao có bước ngoặt ấy?
ấy là vì có sự quá tải của chữ “phải”! Phải làm nhiều việc quá, dễ sinh nhầm lẫn. Phải đã chỉ cái sắc thái chịu sự “rủi, xấu” lại còn phải thể hiện thêm ý nghĩa “cần thiết phải”, “buộc phải làm” (Tôi phải ra ga). Nó lại còn phải thể hiện ý “đúng” (Anh phải, nó trái).
Thế là để khỏi lầm, người ta chuyển giao trách nhiệm diễn đạt sắc thái tiếp nhận “xấu, rủi” sang cho bị là chính. Do đó ngày nay, chủ yếu sắc thái này được thể hiện bằng từ bị: bị phạt, bị đòn, bị đánh, bị ế, bị điểm xấu… Tuy nhiên, do bị ở chữ Hán chỉ đi trước động từ, danh từ… nên vào tiếng Việt nó cũng chỉ ở vị trí đó. Cho nên, “phải” vẫn còn được lưu giữ ở một vài cụm từ đã dùng quen như phải gió, phải biết, phải vạ, phải một bữa đó… Đặc biệt, trong những trường hợp đối ứng với được đi sau động từ thì phải vẫn phải có mặt như kiểu: ăn được/ ăn phải, vớ được/ vớ phải…
Thực sự hòa nhập
Khi đã vào tiếng Việt lâu dài, bị đã hòa nhập cùng cộng đồng ngôn ngữ Việt. Nếu không biết chữ Hán, mấy ai biết cái chữ bị quen thuộc này lại là ngoại lai! Thế cho nên, bị hoạt động cũng thoải mái lắm. Nó không chỉ đi trước các động từ, tính từ, danh từ… mà còn cả các cụm động từ – bổ ngữ, cụm chủ vị (bị đau chân, bị vỡ sọ, bị người ta chê cười, bị vợ ăn vạ…) nghĩa là tất cả kết cấu làm được bổ ngữ chỉ đối tượng trực tiếp của nó.
Chữ bị này hoạt động mạnh mẽ quá nên nhiều lúc dường như nó không còn là một động từ nữa, nó “hư hóa” đi. Nó chỉ như một yếu tố “ngữ khí”, nhấn mạnh cái sắc thái đánh giá: cái áo này bị xanh rồi, lòng luộc bị dai (bỏ đi, nội dung thông báo không khác)…
Đặc biệt gần đây, trong khẩu ngữ còn có lối nói đùa cợt thân mật, trẻ trung và cả hài hước nữa, khi người ta thể hiện một sự đánh giá theo hướng “tốt, may” như kiểu: Cô ấy hơi bị xinh đấy! Giọt nước hơi bị trong!… Chưa biết rồi đây, cộng đồng sử dụng tiếng Việt chúng ta có chấp nhận cái bước ngoặt nghịch ngợm này của chữ bị hay không, xin cứ tạm ghi nhận.
Đôi điều nhận xét
Dõi theo bước đường nhập Việt của cái chữ bị gốc Hoa này, ta có thể thấy có nhiều chữ gọi là “thuần Việt” nhưng thực ra cũng là từ mượn. Chả nên quá phân biệt đối xử để kỳ thị các từ mượn hợp lý. Có một điều rất lý thú là khi mượn từ, người Việt ta có sàng lọc: Không mượn các nghĩa không cần (bị cũng có nghĩa là cái mền), không để lẫn lộn sắc thái tốt, xấu như ở ngôn ngữ gốc (Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh còn ghi bị tuyển cử nhân = người được nhân dân tuyển cử).
Điều thứ hai dễ nhận là việc du nhập của các từ mượn được cộng đồng chấp nhận, sử dụng đều do nhu cầu nội tại của hệ thống tiếng Việt và tuân theo các quy tắc khá chặt chẽ (như cần thì mượn, không thì thôi, vừa phải tiết kiệm lại vừa phải phân công giữa các từ để tránh hiểu lầm, khó cho giao tiếp…).
Điều thứ ba là khi đã mượn từ, dân mình rất thoáng, không định kiến, coi bình đẳng như các từ khác để nó thỏa sức hoạt động như con dân tiếng Việt thực thụ.
Vì vậy, chẳng nên như một số trong chúng ta bị phong cách nhà nho gò bó, “chiếu trải không ngay ngắn không ngồi”. Khi gặp từ Hán Việt là giở sách cổ ra đối chiếu chê chỗ này chệch âm, chỗ kia sai nghĩa cũ, và để rồi không bao giờ chấp nhận những cách dùng khá hay, nhưng chưa được ghi vào từ điển, sách ngữ pháp. Rõ ràng như thế là không tôn trọng cái thực tiễn của các từ ngữ sống động trong đời sống.
Lê Xuân Mậu
(Tạp chí Tài hoa trẻ)

Saturday, 19 May 2012

Cấp giấy chứng minh cho bốn chữ cái (Nguyễn Đức Dương, Tuổi Trẻ 7/5/2012)

Hôm 3-5, TS giáo dục học Lê Vinh Quốc có bài viết nhận xét “bảng chữ cái tiếng Việt hiện hành” là thiếu “chính xác và nhất quán”.
Do đâu mà bộ ký tự hết sức ổn định gồm 29 chữ cái hiện hành, một công cụ vừa tiện dụng vừa khoa học để ghi lại một cách trung thực bộ mặt ngữ âm của tiếng Việt và từng được nhiều nhà ngữ học tên tuổi cả trong lẫn ngoài nước (như Cao Xuân Hạo, Laurence C. Thompson, các giáo sư Hoàng Phê, Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Văn Lợi...) đánh giá rất cao lại bị chê trách nặng lời đến thế?
Câu trả lời chắc tự nó sẽ đến nếu chúng ta không hiểu công dụng chủ chốt của các bảng chữ cái và giá trị của bốn ký tự “bị dùng lậu” F, J, W và Z, như TS Quốc từng hiểu.
Thật thế, theo TS Quốc thì “tính khoa học” và “tính nhất quán” của một bảng chữ cái vốn được thể hiện rõ nhất và cơ bản nhất qua khả năng đánh số thứ tự các hàng ghế trong rạp hát hay rạp chiếu bóng, trong toa xe hay trên sân vận động, cũng như qua khả năng đánh số thứ tự các đề mục/tiểu mục trong những báo cáo khoa học hay công tác, hoặc qua khả năng gọi tên hình này hình nọ ở môn hình học.
Trong khi đó giới ngữ học lại quen đánh giá tính khoa học và tính nhất quán của một bảng chữ cái qua khả năng ghi lại đủ chân thực, đủ chân xác bộ mặt ngữ âm của các từ ngữ trong một thứ tiếng, vì theo họ hình dung đây mới là công dụng chủ chốt nhất và hệ trọng nhất của các bảng chữ cái. Cách nhìn nhận vấn đề khác nhau tất đưa đến các kết quả đánh giá khác nhau. Đó là điều dễ hiểu, cho nên chắc hẳn chúng ta khỏi phải bàn nhiều. Bởi thế, tiếp theo đây có lẽ chúng ta nên dành thì giờ để bàn đến chuyện: làm cách nào để cấp “giấy chứng minh” cho bốn chữ cái “bị dùng lậu”?
Thực tế ngôn ngữ cho thấy từ mấy thập niên gần đây, trên các văn bản viết bằng chữ quốc ngữ, bốn ký tự F, J, W, Z đã được dùng công khai và ngày một nhiều để ghi các ký hiệu trong mấy môn vật lý, hóa học, toán học... (F, J, W, Hz...), để viết các dạng tắt tên riêng của các tổ chức nước ngoài (FAO, WHO...), để viết các thuật ngữ khoa học - công nghệ (kim loại wonfram, định dạng file, các trang web), để viết các nhân danh/địa danh nước ngoài (California, Zagreb, Washington...), để ghi các từ ngữ nước ngoài dùng trong giao tiếp thường nhật (quần jeans áo jacket, võ judo...).
Trong các cuộc thảo luận về việc sử dụng bốn ký tự trên trong văn bản tiếng Việt thì hầu hết ý kiến đều tán thành việc dùng những ký tự ấy cho ba trường hợp đầu, nhưng dùng cho hai trường hợp cuối lại gây nên lắm cuộc tranh luận sôi nổi mà đến nay vẫn chưa ngã ngũ.
Tuy nhiên, theo chúng tôi, ngay từ bây giờ chúng ta nên cấp “giấy chứng minh” cho bốn ký tự ấy thì hơn, bởi sớm muộn nước ta cũng sẽ hội nhập ngày càng sâu thêm vào cộng đồng thế giới, và các thế hệ đi trước càng đón đầu sớm bao nhiêu thì các thế hệ đi sau càng đỡ thiệt thòi bấy nhiêu.
NGUYỄN ĐỨC DƯƠNG

Có bị kỳ thị hay không (An Chi - Năng Lượng Mới số 121 ,18-5-2012)

Bạn đọc : Nói về bảy chữ cái Ă, Â, Đ, Ê, Ô, Ơ và Ư, trong bài “Những chữ cái bị kỳ thị” đăng trên Tuổi Trẻ  ngày 3-5-2012, TS Giáo dục Lê Vinh Quốc viết:
“Nếu chỉ sử dụng để đánh vần (hay ghép vần), đọc, viết hay biên soạn từ điển thì những chữ biến thể này dường như không có vấn đề gì phải bàn. Nhưng khi sử dụng chúng trong những trường hợp khác lại có vấn đề phát sinh.”
Xin hỏi ông An Chi có nhận xét gì về “những trường hợp có vấn đề phát sinh” mà TS Lê Vinh Quốc đã nêu.
                                                                                      (Nguyễn Hữu Huỳnh Đức – Thành phố Vũng Tàu).
An Chi : Về “những trường hợp có vấn đề phát sinh”, TS Lê Vinh Quốc đã viết như sau:
“Khi cần sắp xếp một hệ thống nào đó theo vần chữ cái, người ta chỉ dùng các chữ cái Latin gốc mà không dùng đến các chữ biến thể đó. Chẳng hạn, khi dùng bảng chữ cái để ghi ký hiệu các hàng ghế của hội trường, nhà hát, rạp chiếu bóng, sân vận động hay tàu xe, người ta đều ghi theo thứ tự như sau: A, B, C, D, E, G (...) O, P, Q (...), T, U, V, X, Y... Như vậy tức là các chữ biến thể (Ă, Â, Đ, Ê, Ô, Ơ, Ư) đã hoàn toàn bị loại bỏ.
“Khi cần trình bày các luận điểm theo thứ tự vần chữ cái, người ta cũng thản nhiên bỏ qua những chữ đó. Trong các môn học ở nhà trường, khi cần dùng bảng chữ cái để trình bày các ký hiệu hay công thức, những chữ này không bao giờ được áp dụng. Chẳng hạn ở môn hình học luôn có các tam giác A - B - C, nhưng chưa bao giờ có tam giác A - Ă - Â!”
Về ý kiến trên đây của TS Lê Vinh Quốc,  nhà ngữ học Nguyễn Đức Dương đã châm biếm nhẹ nhàng:
“Theo TS Quốc thì “tính khoa học” và “tính nhất quán” của một bảng chữ cái vốn được thể hiện rõ nhất và cơ bản nhất qua khả năng đánh số thứ tự các hàng ghế trong rạp hát hay rạp chiếu bóng, trong toa xe hay trên sân vận động, cũng như qua khả năng đánh số thứ tự các đề mục/tiểu mục trong những báo cáo khoa học hay công tác, hoặc qua khả năng gọi tên hình này hình nọ ở môn hình học.
“Trong khi đó giới ngữ học lại quen đánh giá tính khoa học và tính nhất quán của một bảng chữ cái qua khả năng ghi lại đủ chân thực, đủ chân xác bộ mặt ngữ âm của các từ ngữ trong một thứ tiếng, vì theo họ hình dung đây mới là công dụng chủ chốt nhất và hệ trọng nhất của các bảng chữ cái.” (Cấp “giấy chứng minh” cho bốn chữ cái, Tuổi Trẻ, ngày 7-5-2012).
Nhưng TS Quốc thì kết luận: “Nếu xét về tính khoa học của một ngôn ngữ thì việc 7/29, tức gần 1/4 số chữ cái không được sử dụng trong các trường hợp nêu trên lại cho thấy sự không bình thường của bảng chữ cái chính thức: những chữ cái biến thể không được coi là bình đẳng với những chữ khác.”
Nếu ta được phép diễn ra cho rõ cái ý châm biếm của nhà ngữ học Nguyễn Đức Dương thì “các trường hợp nêu trên” lại thuộc những lĩnh vực phi ngôn ngữ nên ở đây chẳng làm gì có chuyện “những chữ cái biến thể không được coi là bình đẳng với những chữ khác”.
Đó là ta còn chưa nói đến sự nhầm lẫn nghiêm trọng của TS Lê Vinh Quốc khi ông viết:
“Đến nay, các nhà ngôn ngữ học vẫn không hiểu vì sao khi sáng tạo ra chữ quốc ngữ, linh mục Alexandre de Rhodes đã loại bỏ bốn chữ cái gốc Latin nêu trên (tức bốn chữ F, J, W, Z – AC) để rồi phải dùng PH thay cho F, dùng GI thay cho J và dùng D để ghi cái âm đáng lẽ thuộc về Z; rồi lại phải chế ra chữ Đ để ghi cái âm vốn thuộc về D?”
Thực ra thì chính TS Quốc không hiểu chứ đâu phải “các nhà ngôn ngữ học vẫn không hiểu”. Trước nhất, và sai từ gốc, là TS Quốc không biết rằng A. de Rhodes không phải là người đã sáng tạo ra chữ quốc ngữ. Vâng, không hề. Thứ đến, là về sự chế tác các chữ hoặc chữ kép PH, GI, D (thay cho Z) và Đ (để ghi cái âm vốn thuộc về D), ông cũng nói sai.
Về PH, chính A. de Rhodes đã viết như sau:
“F, hay đúng hơn là ph, bởi vì không đòi phải giề hai môi như của chúng ta, nhưng đúng hơn là, trong khi đọc hay phát âm, thì nhếch môi cách nhẹ nhàng với một chút hơi thở ra, vì thế trong từ điển chúng tôi không dùng chữ f, mà dùng chữ ph, bởi vì các sách đã chép từ lâu đều sử dụng như vậy.” (Từ điểnAnnam-Lusitan-Latinh, Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt, Đỗ Quang Chính phiên dịch (phần “Báo cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh”, tr.6), Nxb Khoa học xã hội, 1991).
Khi mà “các sách đã chép từ lâu đều sử dụng như vậy”, như chính A. de Rhodes đã thừa nhận, thì hiển nhiên chữ kép PH cũng đâu phải do ông ta đặt ra. Và sự chế tác này có lý do ngữ học thực tế và xác đáng của nó, như chính A. de Rhodes đã giải thích và như sau đó 344 năm, Nguyễn Tài Cẩn đã chứng minh và khẳng định:
“ Lên đến thế kỉ 17 ta chỉ thấy cách phát âm tắc bật hơi Ph. K.J. Gregerson đã nghiên cứu kĩ cuốn từ điển 1651 (tức cuốn của A. de Rhodes – AC), đối chiếu cách miêu tả của A. de Rhodes với các văn bản Quốc ngữ cổ, với các cách nói địa phương, và đã đi đến kết luận như vậy.” (Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt (Sơ thảo), Nxb Giáo dục, 1995, tr.96).
Vậy cho đến thời của A. de Rhodes thì PH dùng dể ghi phụ âm tắc bật hơi chứ đâu có phải là một phụ âm xát  vô thanh mà TS Quốc đòi những người đặt ra chữ kép đó phải thay nó bằng F.
Về GI thì A. de Rhodes cho biết như sau khi nói về chữ G :
“G được sử dụng giống như chúng ta, thí dụ gallina (con gà mái); tuy nhiên cần ghi nhận điều này, khi viết ghe và ghi thì chúng tôi theo lối chính tả của Ý vì nó tiện lợi hơn cho ngôn ngữ này,cũng thế cả những tiếng giagiogiơgiu và giư đều phải phát âm theo kiểu Ý, vì như vậy, xem ra tiện lợi hơn. Vả lại trong các sách đã biên soạn thì thói quen đó đã thịnh hành (…)”. (Chỗ đd, tr.6-7).
Rõ ràng, như chính A. de Rhodes đã thừa nhận, cách ghi GI cũng chỉ là do chính ông ta đã làm theo những người đi trước và trong trường hợp này thì họ đã mượn cách ghi âm của chữ Ý là GI. Bảng chữ cái chính thức của tiếng Ý không có J nên đòi phải dùng chữ này thay cho GI là một điều không thực tế.
Về chữ D, mà TS Quốc cho là dùng để ghi cái âm đáng lẽ thuộc về Z, thì ý kiến của ông cũng sai nốt. Vào cái thời tương ứng với lúc (hoặc trước lúc) chế tác chữ quốc ngữ thì Nguyễn Tài Cẩn cho ta biết D có hai nguồn gốc : một là từ *t của tiếng Hán và hai là từ thanh mẫu dương (hay di) với âm trị là *j. (Sđd, tr.63). Dĩ nhiên là *t không thể ghi bằng Z đã đành mà cả *j cũng không thể ghi bằng Z. Đáng chú ý là hiện nay, trong Nam vẫn phát âm D thành [j].
Còn về mối quan hệ “anh em” giữa D và Đ thì Nguyễn Tài Cẩn đã chứng minh để khẳng định rằng xưa kia chúng vốn có cùng một nguồn gốc (Sđd, tr.63). Vậy cũng không có gì lạ nếu mấy ông cố đạo đã ghi hai cái âm cùng gốc bằng hai chữ cái cùng một “khuôn hình”.
Tóm lại, bài của TS Lê Vinh Quốc là một bài không có chất lượng về phương diện ngữ học; đặc biệt việc ông đưa ra “những trường hợp có vấn đề phát sinh” thì lại là những trường hợp tuyệt đối chẳng liên quan gì đến việc sử dụng “bảy chữ cái bị kỳ thị” về mặt ngôn ngữ.

Friday, 18 May 2012

Bản chất của loạn phiên âm hiện nay là gì?


Có vẻ như tình trạng phiên âm tên riêng (nhân danh và địa danh) trên sách báo hiện nay đã loạn đến mức các nhà ngôn ngữ học cảm thấy cần phải lên tiếng can thiệp. Có hai quan điểm chính:
-          Một là không nên phiên âm. Cụ thể hơn, có người đề nghị phải giữ nguyên ngữ nếu đó là ngôn ngữ dùng hệ chữ cái La Tinh; với các ngôn ngữ không dùng chữ La Tinh thi áp dụng biện pháp chuyển tự sang hệ chữ La Tinh.
-          Nếu phải phiên âm thì cần thống nhất cách phiên âm theo hướng khoa học và hiện đại hóa. Cụ thể hơn, phải có cơ quan có thẩm quyền đứng ra chủ trì công việc này, có sự bàn bạc dân chủ với các chuyên gia đầu ngành (tức là thường dân ngoại đạo xin tránh xa ra).

Cả hai quan điểm đều không có gì mới mẻ.
Người chủ trương quy tất cả về bộ chữ La Tinh thừa biết đó không thể là giải pháp hoàn hảo, chưa bao giờ được chính thức xem là một giải pháp khả dĩ và chắc chắn là sẽ không có cơ hội được chấp nhận trong hoàn cảnh hiện nay. Với các từ gốc Anh, Pháp dĩ nhiên không vấn đề gì, nhưng thế giới ta đang sống không chỉ có hai nước Anh và Pháp. Viên đại tá mới bị lật đổ cách đây không lâu bên Li-bi có tên được ghi bằng cả chục cách trên sách báo Anh, Pháp: Kadhafi, Gaddafi, Qaḏḏāfī, Qadhāfy... Biết chọn cách ghi nào đây? Đã chẳng giải quyết được loạn phiên âm trong nước, ông Việt nào có can đảm đứng ra làm công việc san định cách phiên âm, chuyển tự của các ông Tây?
Chuyện dựng lên một cơ quan có thẩm quyền chủ trì công việc phiên âm cũng lại là một ước mơ không tưởng khác, ngắc ngoải suốt mấy mươi năm qua cùng với huyền thoại về sự trong sáng của tiếng Việt, lâu lâu lại trỗi dậy để nhắc nhở rằng không có chính quyền ra tay là không xong. Nhà văn, nhà báo, thầy cô giáo, sinh viên, học sinh... hãy đợi các chuyên gia đầu ngành chọn ra cách phiên âm tốt nhất rồi nhà nước sẽ ra pháp lệnh cho quý vị sử dụng. Bóng ma của cung cách hoạch định chính sách ngôn ngữ học thời Xta-lin vẫn còn vất vưởng đâu đây. Hãi quá.

Loạn phiên âm về bản chất là nội loạn xã hội và chính trị. Không có một trung tâm quyền lực nào đủ mạnh để áp đặt quan điểm của mình lên toàn bộ xã hội. Nhưng cũng không nhóm lợi ích nào chịu nhượng bộ.
Người ta dễ đạt được đồng thuận với những từ ngữ kêu boong boong như thống nhất, khoa học, hiện đại, dân tộc, trong sáng, chuẩn hóa... Không thể nói khác. Nói khác là nó đập mình chết tươi. Nhưng hiểu khác thì không sao. Có anh hiểu hiện đại là sao chép nguyên ngữ, nhưng không tiện nói trắng ra là sao chép tiếng Anh. Mấy ông cốp cả đời gắn bó với Nga, với Tiệp... sẽ không vừa ý  Vì vậy anh chỉ nên nói là hệ chữ La Tinh cho nó lành. Bao giờ toàn xã hội đồng loạt quy phục Mỹ, tự khắc sẽ viết theo Mỹ cả, khỏi phải nói nhiều. Còn nếu chẳng may Trung Quốc nó sang, cũng khỏi phải nói tương lai sẽ ra sao.
Bây giờ các ông đầu ngành có ngồi lại với nhau cũng không thể giải quyết được việc gì vì các ông chỉ có thể đại diện cho một số nhóm lợi ích / quyền lực nào đó mà thôi, không thể nói thay cho các nhóm lợi ích khác. Có người đại diện cho ý muốn của đảng cầm quyền hoặc một phe nhóm nào đó trong đảng. Có người không thích Liên Xô / Mỹ / Trung Quốc/ bần cố nông / đại gia mới phất..... Có người từ trước đến nay chỉ quen tư duy theo kiểu chuẩn là tốt, lệch chuẩn là không tốt. Có người lại nghĩ rằng trừ khi dí súng vào đầu hay cắt sổ gạo, sổ dầu, không ai có thể bắt người ta nói/viết như mình muốn được. Triệu triệu tên người, tên đất chờ được các vị thống nhất xong cách phiên âm có lẽ đã trở thành lịch sử mất rồi, như tên ông Gà bên nước Li-bi là một bằng chứng.

Dẹp loạn phiên âm giống như gãi ngứa ngoài da. Làm cách nào cũng chỉ là trị bệnh ở ngọn, không đụng gì tới gốc. Xã hội càng ngày càng phân hóa sâu sắc, phân cực gay gắt: giàu/nghèo, sang/hèn, kẻ mạnh người yếu không thể có chung tiếng nói. Cần tìm ra thuốc chữa được căn bệnh đó trước đã.  

Wednesday, 16 May 2012

Kí ninh là từ gốc Pháp hay gốc Hán?


Đào Tiến Thi (2010) trong bài “Bàn tiếp về chuyện i ngắn y dài” cho rằng kí ninh là từ mượn âm Hán Việt nhưng gốc Ấn Âu. Từ quinine trong tiếng Pháp, tiếng Anh ứng với 奎寧tiếng Trung, âm Hán Việt là khuê ninh, không phải kí ninh. Không có văn bản nào cho thấy người Việt mượn âm kí ninh từ sách vở Trung Quốc.
Kí ninh xuất hiện trong tiếng Việt trước năm 1922:
 Nhà nước có lệ phát các thứ thuốc (như nước rửa mắt, tanh-tuya-ri-ốt, kí-ninh) không lấy tiền, Ấu-trĩ-viên dược viện theo lẽ ấy.
Nam Phong Tạp Chí số 61 (1922:4)
Theo ví dụ trên thì có vẻ như là  kí ninh được phiên âm từ tiếng Pháp cùng loạt với tanh-tuy-ri-ốt (teinture d’iode).
Ấy là khoa y-học Âu-tây ngày nay đã vào thời-kỳ phát-đạt lắm; biết bao nhiêu nhà bác-học đã chịu lao-tâm tổn-trí để nghiên-cứu mà bệnh phong cũng chưa thể trị được một cách hoàn-hảo, vì chưa tìm được thứ thuốc nào chuyên-trị công-hiệu như thuốc “ký-ninh” trị bệnh “sốt-rét”, thuốc “thủy-ngân” (水銀) và thuốc “thạch-tín” (石信) trị bệnh “dang-mai” vậy.
Nam Phong Tạp Chí số 80 (1924:107, Đỗ Uông)
Nếu ký-ninh được mượn từ tiếng Trung Quốc, có lẽ Đỗ Uông đã kèm chứ Hán bên cạnh như đã làm với các từ thủy ngânthạch tín.
Quinine có lúc được phiên âm khá sát là kí-nin:
 Người Mường ở đất Mường chưa hiểu phép vệ-sinh, ít khi dùng kí-nin mà nào có mấy khi kêu sốt-rét. Nam Phong Tạp Chí số 95 (1925:436, Nguyễn Văn-Ngọc)

DẤU TÍCH CỦA CÁC TỔ HỢP PHỤ ÂM ĐẦU KB KM KĐ KN QUA CÁCH GHI CHỮ NÔM CỔ - Hoàng Thị Ngọ

38. Dấu tích của các tổ hợp phụ âm đầu KB KM KĐ KN qua cách ghi chữ Nôm cổ (TBHNH 1998)
Cập nhật lúc 21h04, ngày 26/09/2007
HOÀNG THỊ NGỌ
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Trong tiếng Việt ở thời kỳ đầu của quá trình đơn tiết hóa khá nhiều từ vẫn còn yếu tố tiền âm tiết. Một số tổ hợp phụ âm đầu như bl, kl, tl, ml đã được nhiều người biết đến. Trong bài tham luận này, chúng tôi xin đề cập đến dấu tích của các tổ hợp phụ am đầu với [k*] đứng trước các phụ âm tắc [b], [m], [đ], [n].
Sự tồn tại của các tổ hợp phụ âm kb, km, kđ, kn trong tiếng Việt lịch sử là có thật hay không? Và nếu có thì chúng tồn tại trong giai đoạn nào?
Các cách ghi kb, km, kđ, kn không còn thấy trong các cuốn từ điển từ thế kỷ XVII về sau. Những lưu tích về các cách ghi này chỉ còn thấy rất ít trong một số văn bản Nôm cổ trước và sau thế kỷ XV, đặc biệt là ở bản giải âm Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh (gọi tắt Phật thuyết). Sự tồn tại của chúng ta là có thật nếu ta so sánh với những tư liệu thu thập được qua công tác điều tra điền dã ở một số ngôn ngữ dân tộc có quan hệ họ hàng với tiếng Việt, ví dụ: kmắng trong tiếng Bru là kamăng/tơmưng; trong tiếng Mày, Sách, Rục là tamăng; ta còn thấy cả hình thức kz như kzó (gió) trong tiếng Rục, Mã Liềng; Pakatan là kơjo, Tha Vừng là kơju, Poọng là Kδzo… Dấu vết của các tổ hợp phụ âm đầu trên có thể thấy trong chữ Nôm như sau:
- Cách ghi [kb]
Trong Phật thuyết, từ bẵm nghĩa là bế ẵm được dịch từ chữ Hán (bão), xuất hiện 2 lần, đều được ghi là + (cự + bẩm) = kbẵm > bẵm, trong câu.
Nuốt của đắng dả (nhả) của ngọt bẵm ấp nuôi nấng (17b-9)
Áng nạ bẵm ấp mỉm cười chửa hay thốt (33b-9)
Trong một số văn bản đời Lê và đầu đời Nguyễn(1) có một số cách ghi mà chúngtôi cho rằng có thể đây là lưu tích của cách ghi thời cổ còn lại trong chữ Nôm như:
(cá + bị) = kbợ > bợ
貝个 (cá + bối) = kbói > bói
巴个 (cá + ba) = kba > ba
邦个 (cá + bang) = kbương > bương
- Cách ghi [km]
Trong Phật thuyết có trường hợp từ cổ kmắng (mắng) nghĩa là nghe, dịch từ chữ Hán (văn) được ghi dưới dạng 2 dạng mã chữ tách rời và xuất hiện 5 lần trong văn bản. Dùng (mãng) = kmắng > mắng(*) trong các ngữ cảnh:
Được mắng (kmắng) tám đấng tiếng (5b-5)
Kinh dường này A-Nan một no mắng (kmắng) (6b-5)
Đại chúng mắng (kmắng) Bụt thửa thốt (281-1)
Người cùng khác người đấng mắng (kmắng) Bụt thửa thốt (30b-9)
A-Nan mắng (kmắng) lời ấy (8b-7)
Trong Phật thuyết còn một trường hợp nữa là móc được ghi:
木个 (cá + mộc) = kmóc > móc (14b-1)
Từ móc cả 2 thành tố đều nằm trên một mã chữ.
Ở một số văn bản khác cũng thấy cách dùng [km] để ghi như:
- Ghi muống + (cự + mộng) = kmuống > muống (rau muống), trong câu: Ao quan thả gửi hai bè muống (kmuống) (QÂTT, Trang 25a)
- Ghi mẽ + (cự + mỹ) = kmẽ > mẽ (giống như: dáng vẻ bề ngoài), trong câu: Làng kia mẽ (kmẽ) cảnh tiêu tương (QÂTT, trang 17a).
- Ghi mòng +(cự + mộng) = kmòng > mòng (chốc mòng), trong câu: Chốc mòng (kmòng) xin chờ mơ hề (Thiên Nam ngữ lục).
Trong bảng từ vựng của Nguyễn Tá Nhí [83] ở một số các văn bản đời Lê còn tồn tại cách ghi [km] như:
麻个 (cá + ma) = kmà > mà
買个 (cá + mãi) = kmái > mái
免个 (cá + miễn) = kmến > mến
免个 (cá + miễn ) = kmởn > mởn
蔑个 (cá + miệt) = kmệt > mệt
蔑个 (cá + miệt) = kmịt > mịt
某个 (cá + mỗ) = kmõ > mõ
媒个 (cá + môi) = kmối > mối
悶个 (cá + muộn) = kmuộn > muộn
末个 (cá + mạt) = kmượt > mượt
Cách ghi này có thể là lưu tích của cách ghi thời cổ còn lại trong chữ Nôm.
Ngoài các cách ghi [km] bằng 2 mã chữ tách rời, bằng 1 mã ghép 2 thành tố ghi âm, còn thấy trong văn bản Phật huyết cách ghi chỉ giữ lại thành tố thứ 2 (thành tố ghi âm tiết chính). Đó là cách ghi mắng bằng (mãng); xuất hiện 12 lần trong văn bản. (mãng) được tái lập = kmắng > mắng (nghe).
Trong Quốc âm thi tập, ngoài cách ghi muống bằng 夢巨 (cự + mộng) còn có cách ghi cũng chỉ giữ lại yếu tố thứ 2 là (mộng).
(mộng) tái lập = kmuống > muống, trong câu Ao cạn vớt bèo cấy muống (tr.25b)
Từ mòng cũng được ghi bằng cách giữ lại yếu tố thứ 2 (mộng).
(mộng) tái lập = kmòng > mòng (*), trong câu Cảnh cũ non quê nhặt chốc mòng (tr.19b).
- Cách ghi [kđ].
Trong Phật thuyết, dấu vết của tổ hợp phụ âm [kđ] còn thấy ở các trường hợp ghi nátđối:
个怛 (cá + đát) = kđát > nát (43a – 9)
对个 (cá + đối) = kdối > dối (41a – 7)
Trong một số các văn bản khác cũng có cách ghi sau:
Ghi dành bằng 亭巨 (cự + đình) = kđành > dành (QÂTT)
- dựng - 巨登 (cự + đặng) = kđựng > dựng (ĐVTS)
- dưới - 帶巨 (cự + đới) = kđưới > dưới (bia 144470)
Trong những tấm bia không tên ở núi Dục Thúy, Ninh Bình khắc năm 1343, đời Trần Dụ Tông [65] còn thấy ghi các địa danh là: 个低(Cá Đê), 个眈 (Cá Đam).
Trong bảng từ của Nguyễn Tá Nhí lấy tư liệu từ các bản giải âm được in vào đời Lê như: Gia lễ, Chỉ Nam ngọc âm giải nghĩa, Cổ Châu Pháp Vân Phật bản hạnh ngũ lục, Truyền kỳ mạn lục tăng bổ giải âm tập chú, Sô nghiêu đối thoại và một số văn bản in vào đời Tây Sơn như Thi kinh giải âm, Chu địch giải nghĩa diễn ca. Tứ thư ước giải… còn giữ lại được dấu vết của các cách ghi cổ như sau:
Gia đầm bằng 覃个 (cá + đàm) = kđầm > đầm
- đẵng - 等个 (cá + đẳng) = kđẵng > đẵng
- đầy - 待个 (cá + đãi) = kđẫy > đẫy
- đùn - 屯个 (cá + đồn) = kđù > đùn
- đời - 代个 (cá + đại) = kđờ > đời
- Cách ghi [kn]
Văn bản Phật huyết có 3 trường hợp còn giữ lại cách ghi kn, đó là ghi các từ: no, nặng, nang.
Ghi no (là từ cổ, dịch chữ Hán thời, nghĩa là: lúc, khi) dưới 3 dạng chữ: 个奴,个奴,.
Dạng 个奴 (cá nô) = kno > no, viết dưới dạng 2 mã chữ tách rời, xuất hiện 4 lần, trong các ngữ cảnh:
Áng nạ lòng thực dấu tội qua ắt chẳng trật sự no (kno) (13b-3)
No (kno) mẹ chửa con trong mười tháng (17a – 5)
Trăm ngàn đòng bác một no (kno) xẻ tan ra (27a – 5)
Nhiều kiếp chịu khổ chẳng có no (kno) quạnh dừng (29b – 5)
Dạng 个奴 (cá + nô) = kno > no, viết dưới dạng ghép 2 thành tố ghi âm trên cùng một mã chữ, xuất hiện 1 lần (ở trang 16a – 7).
Dạng (nô) tái lập = kno > no. Dạng này chỉ giữ lại thành tố thứ 2, loại bỏ thành tố thứ nhất, xuất hiện 13 lần trong văn bản.
Ghi nặng bằng 巨囊 (cự + ½ nãng), viết dưới dạng ghép 2 thành tố ghi âm trên cùng một mã chữ, xuất hiện 1 lần trong câu:
Ấy mới thực trả được ơn nặng (knặng) áng nạ (30a – 5)
Tái lập (cự + ½ nãng) = knặng > nặng
Ghi nang (trong 尔 艮nể nang), viết dưới dạng ghép 2 thành tố ghi âm trên cùng một mã chữ, xuất hiện 1 lần trong câu:
Lòng nề nang (knang) trước mặt (42b – 1)
Tái lập 艮个 (cá + ½ nương) = knang > nang
Trong những tấm bia đời Trần ở núi Dục Thuý, Ninh Bình còn thấy hiện tượng ghi các địa danh và tên người bằng:
Đỗ Cá Ni(2)
Đỗ Cá Ni
Nam(3)
Trong bảng từ Nguyễn Tá Nhí còn thấy các văn bản có các cách ghi sau:
Ghi nải bằng 乃个 (cá + nãi) = knải > nải
- nưa - 那个 (cá + na) = knưa > Nưa (núi Nưa)
- nom - 南个 (cá + nam) = knom > nom
- nem - 念个 (cá + niệm) = knem > nem
Trong đây là những dấu vết về các cách ghi [kb], [km], [kđ], [kn] trong chữ Nôm văn bản Phật thuyết và ở các văn bản xuất hiện gần thời điểm với Phật thuyết.
Như vậy có hay không có sự tồn tại của các tổ hợp phụ âm này trong tiếng Việt ?
Theo Nguyễn Ngọc San(4) ở tiếng Tiền Việt Mường đã có một số âm tiết chuyển thành PNP (P = phụ âm đầu, N = nguyên âm, P = phụ âm cuối), chưa có thanh điệu trong khi phần lớn vẫn còn giữ dạng PPNP, tức là dạng điển hình của nó vẫn còn là:
P1 P2 N P3
Trong đó P1 tuyệt đại bộ phận là những âm tắc và những biến thể vang như: p, t, ch, k, đ, b, m, n,… và k là phổ biến hơn cả, P2 là một phụ âm bất kỳ.
Nguyễn Tài Cẩn(5) cũng cho rằng: ở thời Proto Việt Chứt, nếu các tổ hợp phụ âm được ghi là C1C2 (trong đó C2 là phụ âm của âm tiết chính) thì kết luận sẽ là:
C1 thường là phụ âm vô thanh, trong đó tần số xuất hiện cao là k,t,p,c.
C2 vì là âm đầu của âm tiết chính nên có thể là phụ âm bất kỳ.
Ta thấy ý kiến của hai nhà nghiên cứu trên đều thống nhất ở chỗ coi phụ âm thứ nhất có kk là phổ biến, còn phụ âm sau là một phụ âm bất kỳ. Như vậy, từ những kết quả nghiên cứu về những giai đoạn rất xa xưa của tiếng Việt, ta thấy rằng trong tiếng Việt có thể có những tổ hợp phụ âm đầu như: kb, km, kđ, kn. Những tổ hợp phụ âm này đã để lại dấu tích trong chữ Nôm.
Xu hướng phát triển của các tổ hợp phụ âm kb, km, kđ, kn tuân theo quy luật phát triển ngữ âm tiếng Việt.
- [kb] có thể có nguồn gốc từ kp, có thể phát triển theo những xu hướng sau:
Giữ lại P2 như trong các trường hợp: bẵm, bợ, bói, ba, bương, P1 dần bị loại bỏ.
Theo xu hướng sát hóa như thấy trong các trường hợp:
vâng (Đại Việt thông sử)
vua (Một số vấn đề về chữ Nôm)
vừa (Bảng từ Nguyễn Tá Nhí)
(………. - ………)
Dấu vết này còn tìm thấy trong tiếng tha Vừng:
Việt Tha Vừng
vảikpaas
vôi kpuul
Qua đó có thể thấy những lai nguyên của v hiện nay là p, b, kp, kb.
- Tổ hợp phụ âm [km] có thể đã có từ lâu và cũng có thể là kết quả của sự phát triển của kp, kb theo xu hướng mũi hóa. Nó cũng giữ lại P2 và loại bỏ P1 như trong các trường hợp:
muống, mắng, mòng
- Tổ hợp [kđ] có nhiều khả năng bắt nguồn từ [kt] nhưng đó là hiện tượng xẩy ra khá sớm. Theo các nhà nghiên cứu thì: ở trước thế kỷ X, /d/ và /t/ đã nhập thành /t/. Sau này /t/ lại biến đổi thành /d/ và đến thế kỷ XV thì /s/ lại biến đổi thành /t/ để lấp ô trống ở /t/ đã biến mất. Trong khi đó thì /kt/ cũng có thể để rụng yếu tố đầu như hiện tượng: 速个(cá + tốc) ghi tóc.
Qua các văn bản Nôm, tổ hợp phụ âm [kđ] cho thấy có các xu hướng:
* Giữ lại P2 như trong các trường hợp: 覃个 (đầm), 等个 (đẵng), 待个 (đẫy), 屯个 (đùn), 代个 (đời).
* Theo xu hướng xát hóa như trong các trường hợp: 亭个 (dành), 巨登 (dựng), 帶巨 (dưới),…
- Tổ hợp phụ âm [kn] có thể là kết quả của sự phát triển theo xu hướng mũi hóa của [kđ], trong văn bản có: > (no), 艮个 (nang), 巨囊 (nặng),…
Qua các tổ hợp phụ âm nêu trên ta nhận thấy ở đây có sự liên quan giữa các tổ hợp phụ âm [kb], [kđ] và [kn]. Ta thấy có sự tương quan giữa 2 quá trình song song của các cặp:
kb – km
kđ – kn
Ta giả định mối quan hệ này có thể được mô tả theo sơ đồ sau:
Kp----------kb----------b----------v
Km--------m----------m
Kt-----------kđ---------đ-----------d
Kn---------n------------n
Đây mới chỉ là những suy nghĩ ban đầu về các tổ hợp phụ âm kb, km, kđ, kn qua các dấu tích của chúng trong chữ Nôm. Chúng tôi hi vọng rằng cùng với các nguồn tư liệu khác, nguồn tư liệu từ chữ Nôm có thể góp phần làm rõ được bộ mặt của tiếng Việt ở giai đoạn thế kỷ XV về trước.
Chú thích:
1. Theo bảng thống kê của Nguyễn Tá Nhí Viện nghiên cứu Hán Nôm.
(*) Trường hợp này, yếu tố thứ nhất Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn cho phải đọc là xa, ở đây sẽ là:
S (δ) năη > mắng. Theo Từ Nguyên, còn có âm là (cửu ngư thiết), chúng tôi chọn âm vì cho rằng đây là cách ghi yếu tố thứ nhất của tổ hợp phụ âm đầu [km]. Dùng âm cư của để ghi yếu tố thứ nhất của một số tổ hợp phụ âm đầu với [k*] khởi đầu đã từng thấy trong chữ Nôm, ví dụ trong [kl] thì [k*] được ghi bằng (cư), (cự), (cổ) như: (trái), 巨僚 (treo), 弄古 (trống), 略車 (trước),… (Quốc âm thi tập). Ngay cả trong Phật thuyết cũng thấy [k*] được ghi bằng (cá) như; (trăm), (trái), (trưa), (trẻ) và đặc biệt được ghi bằng 2 mã chữ như: (cá lung) = klông > trông. Từ trông trong Phật thuyết cũng được ghi bằng 2 mã chữ với (cư) ghi [k*] như 車籠 (cư lung) = klông > trông và dưới dạng 1 mã như 龍車(cư + long) = klông > trông. Chúng tôi thấy rằng [k*] đã được ghi bằng (cá), (cự), (cổ), (cự) đối với [kl] thì đối với [km] yếu tố thứ nhất [k*] cũng có thể được ghi bằng (cư) (xem thêm các ví dụ ở phần giới thiệu về tổ hợp phụ âm [km]).
(*)Âm kmòng chính là do áp lực của các âm [km] trong tiếng Việt vì mòng là từ hán (chốc mòng do từ chúc vọng (祝望) có nghĩa là: mong chờ, mong ngóng), chứng tỏ áp lực của [km] rất mạnh.
2. Bia không tên khắc năm 1343, đời Trần Dụ Tông.
3. Bia Thi tế bệnh điền bi, khắc năm 1385.
4. Tìm hiểu tiếng Việt lịch sử, Nxb. Giáo dục, 1993 - Nguyễn Ngọc San.
5. Ngữ âm lịch sử tiếng Việt (sơ thảo), Nxb. Giáo dục 1995 - Nguyễn Tài Cẩn.
Thông báo Hán Nôm học 1998 (tr.310-319)

Tuesday, 15 May 2012

Chồng tách vợ ly là sao?


Đây không phải là chồng uống (cà phê hay trà) bằng tách, vợ uống (nước) bằng ly, mỗi người một phách. Cũng không phải là vợ chồng chia lìa nhau (tách ra, ly dị, ly hôn, ly biệt...). Chồng tách (do tiếng Anh technician) và vợ ly (do tiếng Anh assembly worker) là kiểu gia đình Việt Nam thường gặp ở Mỹ những năm 80. Kiểu gia đình này hiện nay không phổ biến như mấy mươi năm về trước nữa. Do đó nảy sinh các cách hiểu khác của chồng tách vợ ly trên cơ sở đồng âm từ vựng.