| Tạp chí Hán Nôm >> TCHN từ 2006 về sau >> Tác giả >> D >> Trần Trọng Dương | |||||
|
Saturday, 7 April 2012
VẤN ĐỀ KHAI THÁC TỪ CỔ QUA HỆ THỐNG TỪ ĐIỂN VÀ CÁC VĂN BẢN CHỮ NÔM (Trần Trọng Dương)
Friday, 6 April 2012
Bồi là từ gốc Anh hay gốc Pháp?
Bồi là một trong số mươi từ mượn âm được thu nhận vào từ điển tiếng Việt sớm nhất. Hội Khai Trí Tiến Đức (1931:56) cắt nghĩa là người hầu hạ và ghi chú là bởi chữ “boy” tiếng Hồng-mao, nghĩa là thằng nhỏ. Phần đông các nhà nghiên cứu về sau xem bồi là từ gốc Pháp (Nguyễn Quảng Tuân, 1992:78; Nguyễn Kim Thản, 2005:166) bởi vì từ này được người Việt mượn âm trực tiếp từ tiếng Pháp khi Việt Nam bị Pháp đô hộ.
Người An-nam trước khi nhà nước Pha-lăng-sa sang Bảo-hộ thì chưa có tiếng sà-phòng (savon), nhà ga (gare), rượu bia (bière), cậu bồi (boy) v.v.
Nam Phong Tạp Chí số 59 (1922:351, Vũ Công-Nghi)Thursday, 5 April 2012
Cần vẹt là cái gì?
Cần vẹt là cái cần truyền điện vào tàu điện. Từ vẹt này xuất hiện trong tiếng Việt quãng 1900. Có điều các nhà làm từ điển của Hội Khai Trí Tiến Đức sống ngay tại Hà Nội, ngày ngày nhìn thấy tàu điện chạy leng keng nhưng không thèm cho cần vẹt vào từ điển. Tội của vẹt là trót sinh ra làm con Tây (perche de tramway). Xui cho vẹt là vì nhiều lý do lịch sử (chẳng hạn như tình trạng lụi tàn của hệ thống tàu điện ở Hà Nội), các từ điển sau đó cũng không thu nhận cần vẹt vào bảng từ. Bây giờ người ta vẫn nói tàu điện cần vẹt, cần vẹt tàu điện... nhưng cần vẹt không khác gì một đứa con hoang không rõ nguồn gốc, lai lịch.
Wednesday, 4 April 2012
Từ cảm hứng xuất hiện trong tiếng Việt khi nào?
Năm 1916, trên Đông
Dương Tạp Chí số 52 Nguyễn Văn Tố dùng từ cảm hứng để dịch tựa bài L’enthousiasme
của bà de Stael:
Người ta có thể
nói chẳng ngoa rằng trong mọi sự cảm-giác cái cảm-hứng là cái dễ làm cho ta được
sung-sướng thực, dễ khiến cho ta chịu được cái số-mệnh làm người, dù gặp cái cảnh-ngộ
thế nào mặc lòng.
On peut le dire
avec confiance, l’enthousiasme est de tous les sentiments celui qui donne le
plus de bonheur, celui qui en donne véritablement, le seul qui sache nous faire
supporter la destinée humaine, dans toutes les situations òu le sort peut nous
placer.
Nguyễn Văn Tố (1916:417)
Năm 1917 Phạm Quỳnh trong một bài biên khảo về thơ
Baudelaire trên Nam Phong Tạp Chí dùng từ cảm hứng với một nghĩa khác:
Đã có cảm-hứng
thì tức tìm được âm-điệu xứng-đáng ; không có cảm hứng thì dẫu âm-điệu hay, chẳng
qua cũng mới là thợ, chưa gọi là thơ được.
(Phạm Quỳnh, 1960:186)
Quãng những năm 30, từ cảm hứng được ghi nhận trong từ điển. Đào Duy Anh (1950:859), dùng
từ này để để dịch từ inspiration của
tiếng Pháp. Trước đó inspiration được
dịch là yên sĩ phi lý thuần, hoặc có
khi gọn hơn là yên sĩ. Cả yên sĩ phi lý thuần và cảm hứng đều là từ mượn của tiếng Trung
Quốc, nhưng đọc bằng âm Hán Việt. Từ cảm
hứng cạnh tranh với yên sĩ cả chục
năm không bứt lên nổi.
Lê Thanh
trong bài báo “Từ việc dùng những danh-từ mới đến sự tiến-hóa của việt-ngữ”
đăng ở Tri Tân Tạp Chí số 11 (1941:2)
cho biết:
Từ trước tôi đã
thấy người ta theo Lương-Khải-Siêu bên Tàu mà dịch âm tiếng inspiration ra tiếng
hán-việt là yên-sĩ-phi-lý-thuần. Bây giờ tiếng này đã phổ-thông lắm. Nhưng
không phải là một cớ để ta giữ nó mãi mãi. Vì một lẽ là ta có thể tìm được một
tiếng khác có giá-trị về phương-diện từ ngữ hơn: cảm-hứng.
Monday, 2 April 2012
Xuất xứ của hai tiếng niết bàn (An Chi - Năng Lượng Mới số 10 ,14 - 4 - 2011).
Bạn đọc : Xin vui lòng cho biết xuất xứ của hai tiếng niết bàn. (Hải Vân).
An Chi : Niết bàn là dạng tắt của niết bàn na 涅槃那. Đây là ba tiếng đọc theo âm Hán Việt của ba chữ Hán mà người Trung Hoa đã dùng để phiên âm danh từ hữu quan bằng tiếng Sanskrit. Đoàn Trung Còn đã cho xuất xứ của danh từ niết bàn như sau:
“(Do tiếng Sanskrit) Nirvâna. Viết trọn: Niết-bàn-na (...) Niết (nir): Ra khỏi. Bàn hay Bàn-na (Vâna): Rừng. Tức là ra khỏi cảnh rừng mê tối, rừng phiền não” (Phật-học từ-điển, q.II, tr.335).
Dấu mũ ( ۸ ) trong chữ nirvâna của Đoàn Trung Còn là một ký hiệu thay thế cho dấu gạch ngang ngắn (-) bên trên chữ cái ghi nguyên âm để thông báo rằng đây là một nguyên âm dài. Vậy từ đây xin đổinirvâna thành nirvāna. Nhưng nirvāna cũng không phải là xuất xứ của niết bàn vì xuất xứ đích thực của danh từ này trong tiếng Sanskrit lại là nir-vāṇa. Âm đầu của âm tiết thứ ba là phụ âm óc (cerebral consonant) ṇ chứ không phải là n. Nir-vāṇa là một danh từ phái sinh từ động từ nir-VĀ. (Theo truyền thống Phạn ngữ học của phương Tây, người ta in căn tố động từ bằng chữ in hoa). VĀ là căn tố động từ có nghĩa là thổi, là nổi gió, là tỏa hơi ra, là xông mùi. Còn nir là biến thể hình thái học của tiền động từ (preverb) niḥ chỉ ý biến mất, không còn, v.v.. Vậy nir-VĀ là ngừng thổi, ngưng gió, là tắt, kể cả tắt tự nhiên lẫn bị thổi tắt. Và nir-vāṇa là trạng thái ngừng thổi, trạng thái tắt ngấm, do đó còn có nghĩa phái sinh là sự tiêu tan, sự tịch diệt, là cái chết, là sự thoát khỏi kiếp trầm luân để vãng sanh cực lạc, v.v.. Dictionnaire sanskrit-français của N.Stchoupak, L.Nitti và L.Renou (Paris, 1932) đã giảng nir-vāṇa là: “ extinction (sự tắt ngấm), mort (sự chết), néant absolu (hư vô tuyệt đối), béatitude (cực lạc), [...]”. Vậy niết bàn không có liên quan gì đến “rừng” mà liên quan đến sự tắt ngấm, sự ngừng thổi, hiểu rộng ra là sự tắt thở và cái chết. Có thể so sánh cấu trúc ngữ nghĩa của danh từ nir-vāṇatrong tiếng Sanskrit với cấu trúc ngữ nghĩa của danh từ anima trong tiếng La Tinh để làm cho vấn đề sáng tỏ hơn. Danh từ La Tinh này có các nghĩa sau đây: 1. không khí; 2. luồng hơi, gió; 3. hơi thở; 4. linh hồn; 5. sinh vật, con người; 6. tâm hồn, tấm lòng. Vật có hơi thở, nghĩa là động vật, kể cả con người, thì được gọi là animal (cũng cho ra tiếng Pháp animal = động vật), phái sinh từ anima. Vậy sự sống và cái chết đều có liên quan đến luồng hơi, đến hơi thở. Tắt hơi, tiếng Sanskrit là nir-VĀ, tức là chết. Tóm lại, xét theo nguồn gốc thì khái niệm niết bàn chỉ liên quan đến hơi thở chứ chẳng có liên quan gì đến cảnh rừng cả.
Sở dĩ Đoàn Trung Còn liên hệ niết bàn với rừng là do đã nhầm vāna (= rừng) với vāṇa trong nirvāṇa. Thực ra, trong tiếng Sanskrit thì ṇ và n là hai phụ âm khác nhau cho nên nếu không phân biệt chúng với nhau thì sẽ dễ dàng đi đến nhầm lẫn về mặt ngữ nghĩa. Thí dụ: aṇu là mịn, nhuyễn, mỏng, yếu v.v. nhưng anu thì lại có nghĩa là về sau, đằng sau, v.v.; caṇa là đậu mỏ (pois chiche) còn cana thì lại là một tiểu tố có tác dụng phiếm chỉ hóa một số đại từ; pāṇa là món tiền đặt trong canh bạc nhưng pānathì lại là nước giải khát, v.v..
Tương ứng với tiếng Sanskrit nirvāṇa là tiếng Pāli nibbāna mà Concise Pāli-English Dictionary của A.P. Buddhadatta Mahāthera (Colombo, 1957) dịch là “extinction (of a fire); emancipation; the final bliss”. Nghĩa đã cho bằng tiếng Anh trong Concise Pāli-English Dictionary cũng trùng với nghĩa đã cho bằng tiếng Pháp trong Dictionnaire sanskrit-français. Căn tố động từ trong cả nirvāṇa lẫn nibbāna đều là VĀ (v trở thành b trong nibbāna là do biến thể saṃdhi) với nghĩa đã nói ở trên. Vậy niết bàn (nirvāṇa,nibbāna) chẳng có liên quan gì đến “rừng” cả.
Friday, 30 March 2012
Ấn tượng Hán Việt là gì?
Ấn tượng Hán Việt là mức độ đậm nhạt của nguồn gốc Hán của một từ ngữ Việt trong nhận thức của người Việt. Khái niệm và thuật ngữ ấn tượng Hán Việt được nhóm nghiên cứu dưới sự lãnh đạo của ông Bùi Khánh Thế sử dụng lần đầu trong công trình Mấy vấn đề về tiếng Việt hiện đại (nhà xuất bản Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh, 2001). Nhóm này (Nguyễn Hoài Thu Ba & Trần Thị Kim Anh, sđd. tr. 151-175) tiến hành điều tra trên 285 sinh viên năm thứ hai khoa Ngữ Văn Anh (Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn Thành Phố Hồ Chí Minh, sau đây sẽ gọi là “nhóm sinh viên”) và 167 học sinh lớp 10 trường Phổ Thông Trung Học Nguyễn Chí Thanh (quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh, sau đây sẽ gọi là “nhóm học sinh trung học”) thì thấy:
- 52% học sinh trung học và 74,2% sinh viên cho rằng xa lộ là một từ Hán Việt. Trong danh sách 15 từ ghép được đưa ra khảo sát, xa lộ là từ tạo được ấn tượng Hán Việt cao nhất ở cả hai nhóm. Đồng hạng 2 ở cả hai nhóm là ngôn ngữ (48% học sinh trung học và 74% sinh viên).
-Thường xuyên là một từ Hán Việt chân chính nhưng số người chọn câu trả lời đúng không nhiều: 17,9% học sinh trung học (xếp hạng 13/15) và 29,8% (?) sinh viên (xếp hạng 9/15).
-Hiện nay và bắt đầu được xếp hạng giống nhau ở cả hai nhóm. Chỉ 5,3 % học sinh trung học và 8,7% sinh viên cho rằng hiện nay là từ Hán Việt (đồng hạng 14/15). Trong khi đó 3% học sinh trung học và 4% sinh viên thấy bắt đầu là một từ Hán Việt (đồng hạng 15/15).
Nói chung, các từ được xếp hạng giống nhau khá nhiều: thủ môn (đồng hạng 4), chương trình truyền hình (đồng hạng 10), lý do (đồng hạng 11), yêu thương (đồng hạng 12). Sự chênh lệch, nếu có, thường không đáng kể: tiêu dùng xếp hạng 6 ở nhóm học sinh và hạng 5 ở nhóm sinh viên; vận động viên hạng 5 ở nhóm học sinh xuống hạng 6 ở nhóm sinh viên; điểm yếu hạng 7 ở nhóm học sinh nhưng xuống hạng 8 ở nhóm sinh viên.
- Có 12,5% học sinh trung học nghĩ rằng tham gia là một từ Hán Việt (xếp hạng 8) trong khi chỉ 9,8% sinh viên đồng ý với điều này (hạng 13/15). Chênh lệch hạng cũng đáng chú ý ở từ nguyên nhân (hạng 3 ở nhóm học sinh trung học và hạng 7 ở nhóm sinh viên), thế giới (hạng 9 ở nhóm học sinh trung học và hạng 3 ở nhóm sinh viên).
Hợp Chúng Quốc hay Hợp Chủng Quốc?
Việt Nam Tự Điển của Hội Khai Trí Tiến Đức (1931:250) giảng Hợp-chúng-quốc là Nước nhớn do nhiều nước nhỏ hợp lại và cho ví dụ kèm theo: Nước Hoa-kỳ là Hợp-chúng-quốc.
Chúng chính là một từ Hán Việt (眾). Ta gặp từ này trong các tố hợp công chúng, quần chúng, chúng sinh... và chúng mày, chúng nó... với nghĩa là đông. Do một sự cố có tính cách ngữ âm chúng đã trở thành chủng trong Hợp Chủng Quốc: chữ Hán 種 có thể đọc là chúng (chúng thụ, nghĩa là trồng cây) hay chủng (chủng tộc, nghĩa là giống người). Để cho hợp lý, tên gọi Hợp Chủng Quốc được giải thích là nước gồm nhiều giống (chủng tộc) người hợp thành. Đây là một kiểu vọng văn sinh nghĩa. Dòm lại tên chính thức của nước Mỹ (United States) có từ nào nói về chủng tộc đâu?
Chúng chính là một từ Hán Việt (眾). Ta gặp từ này trong các tố hợp công chúng, quần chúng, chúng sinh... và chúng mày, chúng nó... với nghĩa là đông. Do một sự cố có tính cách ngữ âm chúng đã trở thành chủng trong Hợp Chủng Quốc: chữ Hán 種 có thể đọc là chúng (chúng thụ, nghĩa là trồng cây) hay chủng (chủng tộc, nghĩa là giống người). Để cho hợp lý, tên gọi Hợp Chủng Quốc được giải thích là nước gồm nhiều giống (chủng tộc) người hợp thành. Đây là một kiểu vọng văn sinh nghĩa. Dòm lại tên chính thức của nước Mỹ (United States) có từ nào nói về chủng tộc đâu?
Thursday, 29 March 2012
Thống kê hay thống kế?
Đầu thế kỷ 20 người ta vẫn viết là thống kế:
Mãi đến gần đây thống-kế mới dựng thành một khoa-học. Nam Phong Tạp Chí số 13 (1918:20, Ph. Q)
Theo biểu thống-kế về nhân-khẩu ở Đức trong năm 1930, thì số sinh đẻ ở nước ấy sụt kém đi nhiều lắm, cứ tính theo suất-số một nghìn người thì lại kém cả nước Pháp nữa. Nam Phong Tạp Chí số 167 (1931:427)
Cũng theo sổ thống-kế của Hội Vạn-quốc, thì tiền-tệ các nước đều mất giá-trị (monnaie dépréciée) đi nữa. Nam Phong Tạp Chí số 183 (1933:399)
Hán Việt Từ Điển Giản Yếu cho biết là ngay từ thời Nam Phong Tạp Chí đã xảy ra tình trạng thống kế “thường đọc thống kê” (Đào Duy Anh, 2005:869). Nhưng thi thoảng người ta mới bắt gặp thống kê trên sách vở, có vẻ như là nhà in quên bỏ dấu:
Theo như sổ thống-kê (statistique) của Hội Vạn-quốc, thì ra mấy năm nay cuộc mua bán trao đổi ở giữa các nước trong hoàn cầu sút-kém nhiều lắm: năm 1929 tổng-cộng lại được 35 ngàn 6 triệu đô-la, thế mà đến năm 1931 sụt xuống còn có 20 ngàn 9 triệu mà thôi. Nam Phong Tạp Chí số 183 (1933:398)
Kế đổi thành kê là một ví dụ của hiện tượng Việt hóa từ Hán Việt. Từ kê này (tức kế Hán Việt đã Việt hóa) có nghĩa là kể ra, biên ra: kê đơn hàng, kê đơn thuốc. (Hội Khai Trí Tiến Đức, 1931:262), không phải là xa lạ gì với lời ăn tiếng nói nhưng lại không dễ dàng được chấp nhận trong một tổ hợp có tính trang trọng, bác học. Các nhà soạn từ điển trong một thời gian dài chỉ công nhận một dạng là thống kế (Hội Khai Trí Tiến Đức, 1931:575, Đào Duy Anh, 1950:1684). Đến Đào Văn Tập (1950:696) thì thống kê là mục từ chính với mở ngoặc bên cạnh là kế. Thanh Nghị (1958:1334) dứt khoát gạt thống kế ra ngoài từ điển. Lê Văn Đức (1970b:1591) lại chấp nhận cả thống kế và thống kê: thống kế vẫn là mục từ chính thức có định nghĩa, nhưng kèm ghi chú “thường gọi là thống kê”. Bây giờ thì chẳng ai viết hay nói thống kế nữa, chỉ dùng thống kê trong mọi trường hợp (Hoàng Phê, 2006: 953).
Wednesday, 28 March 2012
Từ Hán Việt chiếm tỷ lệ bao nhiêu phần trăm trong vốn từ tiếng Việt?
Câu hỏi nhảm, nên chỉ có thể trả lời nhảm thôi: Ai đếm được, ta xin gọi là thầy.
Vấn đề đặt ra trên đây có liên quan đến vài vấn đề con nan giải:
1) Từ là gì? Anh hùng là một từ hay hai từ? Chủngtrong Hợp Chủng Quốc có phải là chủng của chủng tộc không, hay phải đếm chung nó với chúng của quần chúng, chúng mày, chúng nó? Nếu công nhận tiếng Việt có từ ghép thì thống kế và thống kê sẽ được gom chung vào một từ vị hay sẽ được tính như hai đơn vị riêng biệt? Nói tóm lại là tùy quan niệm của người nghiên cứu, kết quả đếm được sẽ rất khác nhau, dẫn đến những phân số khác nhau.
2) Từ Hán Việt là gì? Có người hiểu đơn giản là “từ Việt gốc Hán”. Có người hiểu hẹp hơn là “từ Việt gốc Hán trên cơ sở Đường âm”. Trong nhiều trường hợp, xác định gốc Hán cho một từ Việt không phải chuyện dễ; khẳng định đó là âm Hán thượng cổ, trung cổ, hậu Hán Việt... càng phức tạp hơn.
3) Tiếng Việt là tiếng Việt nào? Người ta thường hiểu ngầm là tiếng Việt hiện đại, không phải tiếng Việt của Nguyễn Trãi hay Quang Trung. Nhưng tiếng Việt hiện đại bắt đầu từ năm nào? Gia Định Báo hay Nông Cổ Mín Đàm có được xem là thuộc về giai đoạn hiện đại không? Tiếng Việt của bọn phản động có được tính đếm không? Nếu chỉ tính xuất bản phẩm dưới một chế độ chính trị nhất định, trong một quãng thời gian nhất định thì có gom tất cả các thể loại không hay chỉ giới hạn ở một phong cách nào đó (thơ, truyện ngắn, truyện dài, luận án...)?
4) Vốn từ là gì? Chỉ là tập hợp tất cả các đơn vị từ vựng nhận diện được trên văn bản thực (giả sử vấn đề con số 1 đã được giải quyết) hay kể luôn cả những đơn vị có khả năng xuất hiện nhưng ta chưa gặp? Không có cái bộ phận tiềm tàng ấy thì sẽ chẳng bao giờ có cái gọi là “từ mới”, nhưng làm thế nào đo đếm hay ước lượng cái phần chìm của tảng băng?
5) Ta có sống đủ lâu để nhìn thấy cách giải quyết các vấn đề con đã nêu không?
Sino Vietnamese language là cái gì?
Tất cả các từ điển ngôn ngữ học đều không có một thuật ngữ nào như vậy.
Một người viết blog nổi tiếng là Trương Thái Du tra Google tìm thấy hơn hai trăm ngàn kết quả với cụm “Sino Vietnamese language”, nhưng kết quả này thật ra bao gồm cả những trang viết về “Sino Vietnamese language contact”, bàn về tiếp xúc ngôn ngữ (giữa) Việt (và) Hán. Số còn lại là những trang của Trương Thái Du và những trang Web sao chép lại Trương Thái Du, không kể số trang có tính cách phiếm đàm thoải mái. Không một trang Web nào có uy tín học thuật dùng thuật ngữ “Sino Vietnamese language”.
Cụm từ “Sino Vietnamese language” có lẽ là do ai đó đã dịch sai thuật ngữ “tiếng Hán Việt”. Trong tiếng Việt (Việt ngữ), tùy theo trường hợp, tiếng được hiểu theo nhiều cách khác nhau:
-Có khi tiếng được hiểu là ngôn ngữ (như tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Việt, tiếng Trung..., ứng với language của tiếng Anh ).
-Có khi tiếng được hiểu là từ (ứng với word trong tiếng Anh), tức đơn vị có chức năng ngữ pháp trong câu.Ví dụ: Câu “Em học toán” có đúng ba tiếng, trong đó học và toán là hai tiếng Hán Việt).
-Có khi tiếng được hiểu là âm tiết (ứng với syllable trong tiếng Anh), nếu xét về phương diện âm thanh. Ví dụ: Câu “Em học toán” có ba từ, được phát thành ba tiếng rời nhau.
Thuật ngữ “tiếng Hán Việt” chỉ có một thuật ngữ tiếng Anh tương đương là Sino-Vietnamese word (tiếng là từ).
Tiếng Hán Việt là gì?
Tuesday, 27 March 2012
Hỏi han có phải là từ láy phụ âm đầu không?
Hỏi han là một tổ hợp đẳng lập. Han có nghĩa là hỏi (Hội Khai Trí Tiến Đức, 1931:227). Truyện Kiều có câu:
Trước xe lơi lả han chào,
Vâng lời nàng mới bước vào tận nơi.
Han chào chính là chào hỏi.
Saturday, 24 March 2012
Giữ giàng có phải là từ láy phụ âm đầu không?
Giữ giàng có nghĩa là giữ gìn, coi sóc (Vương Lộc,2001:72):
Giữ giàng họ Thúc một nhà cho yên... (Truyện Kiều, câu 2034)
Việc binh bỏ chẳng giữ giàng... (Truyện Kiều, câu 2505)
Giàng là một từ cổ, có nghĩa là giữ (Vương Lộc, 2001:69). Bài Nhàn Ngâm trong Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập có câu:
Đón yêu trăm vẻ nên giàng bụng..
Như vậy giữ giàng là một tổ hợp đẳng lập.
Friday, 23 March 2012
Giữ gìn có phải là từ láy phụ âm đầu không?
Không. Gìn có nghĩa là giữ (Hội Khai Trí Tiến Đức, 1931:221). Truyện Kiều có câu:
Gìn vàng giữ ngọc cho hay,
Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời.
Như vậy giữ gìn / gìn giữ đều là những tổ hợp đẳng lập.
Gìn vàng giữ ngọc cho hay,
Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời.
Như vậy giữ gìn / gìn giữ đều là những tổ hợp đẳng lập.
Wednesday, 21 March 2012
Xuất xứ của cách gọi Đàng Trong, Đàng Ngoài _ An Chi ( Đã đăng ANTG số 1.000, 9-10-2010).
Liên quan đến vấn đề này, GS Nguyễn Tài Cẩn có viết bài “Về việc dùng hai động từ «vào» «ra» để chỉ sự di chuyển đến một địa điểm ở phía Nam hay phía Bắc”, ban đầu in trong Tạp chí Khoa học số 4/91 của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nôi, sau đó in lại trong Một số chứng tích về ngôn ngữ, văn tự và văn hóa ( Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001). Ngược với ý kiến cho rằng Đàng Trong, Đàng Ngoài là nguyên nhân đưa đến lối nói vào Nam , ra Bắc, GS Nguyễn Tài Cẩn đã có công phát hiện những cứ liệu chứng minh điều ngược lại và những cứ liệu này, như ông đã chứng minh, chậm nhất cũng đã có từ đầu thế kỷ XV. Sau đây là những chứng cứ mà GS đã đưa ra.
1.Trong Dư địa chí của Nguyễn Trãi (đầu đời Lê), động từ nhập đã được dùng để chỉ việc đi vào Nam:“Trần Thái Tôn mệnh thượng tướng Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải NHẬP ngự Nguyên nhân vu Nghệ An ”(= Vua Trần Thái Tôn hạ lệnh cho thượng tướng Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải VÀOchặn đánh quân Nguyên ở Nghệ An).
2.Trong Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư của một tác giả tự xưng là “nhà nho đỗ thi hương, họ Đỗ Bá, hiệu Đạo Phủ, quê ở Bích Triều, Thanh Giang” cũng đã có những câu dùng XUẤT, NHẬP, NGOẠI liên quan đến hướng Nam Bắc như vậy: – “Như tự Cửa Lạc việt, NHẬP, nghi thu đông, XUẤT nghi xuân hạ” (= Nếu từ Cửa Lạc vượt biển để VÀO thì phải đi trong mùa thu hay mùa đông, để RA thì phải đi trong mùa xuân hay mùa hạ). – “Tự Lại doanh XUẤT chí Kinh Nhà Hồ … Tự NGOẠI NHẬP chí Tam Độ” (= Từ doanh Lại RA đến Kinh nhà Hồ … Từ NGOÀI mà VÀO đến Tam Độ).
3.Hơn nữa có chỗ văn bản vừa dùng câu chữ Hán có XUẤT, NHẬP vừa dùng câu Nôm có RA, VÀO để giải thích cho nhau: – “Tự Cầu Ngạn NHẬP tắc xanh thuyền diên Thạch Hà biên, XUẤT tắc xanh thuyền diên Thiên Lộc biên, tục vân VÀO THẠCH HÀ, RA THIÊN LỘC” ( Từ Cầu Ngạn mà VÀO thì phải chèo thuyền ven theo bên Thạch Hà, mà RA thì phải chèo thuyền ven theo bên Thiên Lộc, có câu tục ngữ rằng: VÀO THẠCH HÀ, RA THIÊN LỘC).
Trở lên là những cứ liệu mà GS Nguyễn Tài Cẩn đưa ra để khẳng định rằng chính lối nói VÀO NAM, RA BẮC đã đưa đến cách gọi ĐÀNG TRONG, ĐÀNG NGOÀI chứ không phải là ngược lại và về mặt này thì chúng tôi hoàn toàn đồng ý với ông. Nhưng tất cả chỉ có thể chứ những điểm sau đây trong lập luận của ông thì chúng tôi cho là cần phải được xét lại. Ông chủ trương:
1. Chắc trước tiên phải có những câu nói cụ thể ở từng địa phương nhỏ, phản ánh đúng sự đi lại tùy theo địa hình từng vùng rồi sau đó mới hình thành những câu nói chung hơn như xuống Đông lên Đoài,ra Bắc vào Nam, chứ không phải là trước tiên có những công thức khái quát dựa trên địa lý toàn quốc rồi mới đem ứng dụng nhất luật vào từng vùng nhỏ.
2. Lối nói vào Nam/ra Bắc đã có mặt từ thời Nguyễn Trãi. Vậy nó phải sản sinh trên cơ sở những lối nói về việc đi lại trên địa bàn Việt Nam khoảng thời gian trước đó, tức khoảng đầu thế kỷ XV về trước. Thời gian này, như cứ liệu lịch sử cho biết, lãnh thổ Việt Nam mới bao gồm vùng Bắc Bộ và giải đất từ Thanh Hóa đến Thừa Thiên.
3. Đi vào nơi hẹp, kín, bí hiểm, tận cùng mà dùng vào, vào trong …, đi ra nơi rộng thoáng, mở mang mà dùng ra, ra ngoài …, điều đó hoàn toàn không có gì xa lạ với những lối nói quen thuộc như vào ngõ, vào cỗng, vào trong hang, vào trong rừng/ra khơi, ra đồng, ra ngoài sân, ra ngoài bãi …
4. Nhưng do một sự tình cờ của địa lý, giải đất hẹp, bí hiểm vùng biên giới lại ở phía Nam, chỗ đồng bằng rộng thoáng, mở mang lại ở phía Bắc, cho nên những lối nói có vào/ra như trên lại ngẫu nhiên mang thêm một nét nội dung mới: nói vào một địa điểm X là nói đi về phía Nam hơn, so với đồng bằng Bắc bộ; và nói ra một địa điểm Y là nói đi về phía Bắc hơn, so với các vùng Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên.
Chúng tôi thì nghĩ khác hẳn GS Nguyễn Tài Cẩn về cái hướng để giải quyết vấn đề này; mà ngay trong từng điểm cụ thể thì luận cứ của ông cũng chẳng vững chắc chút nào. Về điểm 1, ngược với ông, chúng tôi nghĩ rằng chính những công thức khái quát (vào Nam, ra Bắc) dựa trên địa lý khu vực duyên hải Biển Đông (từ Giao Chỉ vào Cửu Chân, từ Cửu Chân vào Nhật Nam, và cứ thế mà dần dần Nam tiến …), chứ không phải chỉ toàn quốc (Việt Nam), đã được ứng dụng nhất luật vào từng vùng nhỏ. Về điểm 2, chúng tôi cho rằng lối nói vào Nam/ra Bắc đã có mặt từ trước đầu thế kỷ XV khá xa, có thể đến năm, ba thế kỷ là thường vì công cuộc Nam tiến không những diễn ra liên tục, mà còn từ rất sớm nữa là đằng khác. Chính GS cũng đã phải thừa nhận:“ Theo tài liệu lịch sử, có những đợt di dân như năm 1075, 1042, …, những đợt vận chuyển lương thực như năm 1376, và những đợt kéo quân vào tập luyện, đánh Chiêm Thành (1104, 1252, 1311, 1318, 1353, 1367, 1376-1377, 1383, 1402, 1403,…).” ( Sđd, tr.128, chth. 8). Về điểm thứ 3, khi ta nói, chẳng hạn, “Đến bốn giờ chiều hôm đó thì đại đội X mới ra khỏi cánh rừng Y mà vào thành phố Z ”, thì có lẽ nào thành phố lại là nơi hẹp, kín, bí hiểm, tận cùng?Huống chi, vào trong hang tuyệt đối chẳng khác gì vào trong cung điện, vào trong công viên nước,vào trong thảo cầm viên, vào trong vườn Tao Đàn, vào trong khu ăn chơi Las Vegas, v.v., cả về nghĩa lẫn ngữ dụng của vị từ VÀO. Cuối cùng thì, với chúng tôi, sự việc đã diễn ra một cách hoàn toàn độc lập đối với điểm thứ 4 của GS Nguyễn Tài Cẩn.
Với chúng tôi thì vấn đề không phải ở chỗ địa bàn rộng hay hẹp; địa thế kín hay hở; môi trường bí hiểm hay mở mang; v.v.; mà là vấn đề lập trường, nghĩa là chỗ đứng để định hướng, nói rõ ra là chuyện địa bàn dân tộc. Nó na ná chuyện cái tên Hà Nội của Tàu mà chúng tôi đã nói đến trên chuyên đề An ninh Thế giới số 996 (25-9-2010). Địa danh này được từ điển Từ hải giảng: “Kim Hà Nam tỉnh Hoàng Hà dĩ Bắc địa, cựu thời thông xưng viết Hà Nội; nhi xưng Hoàng Hà dĩ Nam viết Hà Ngoại”, nghĩa là “Đất tỉnh Hà Nam hiện nay từ Hoàng Hà trở về Bắc, xưa thường gọi là Hà Nội; còn từ Hoàng hà trở xuống Nam thì gọi là Hà Ngoại”. Rõ ràng đây là một cách đặt tên theo lập trường dân tộc. Từ Hoàng Hà trở về Bắc nói chung thì thời xưa là địa bàn của tộc Hán, mà cái nôi là Trung Nguyên. Vậy từ Hoàng Hà về Bắc là TA (dĩ nhiên là “ta” của Tàu), là nhà, là bên trong, là Hà Nội. Còn bên kia Hoàng hà là Nam Man, là CHÚNG NÓ, là bên ngoài, là Hà Ngoại (dĩ nhiên đây cũng chỉ là chuyện “đời xưa”). Nhưng trong khi người Trung Quốc vận dụng chỗ đứng để xử lý việc đặt địa danh theo từng vùng BẮC/ NAM (thành NỘI/NGOẠI) thì người Việt lại vận dụng nó để xử lý việc diễn đạt sự chuyển dịch từ BẮC xuống NAM và ngược lại, bằng hai vị từ VÀO/RA.
Đối với người Việt thì vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ hiên nhiên là địa bàn gốc, địa bàn cố hữu. Khi di dân xuống phía Nam, họ định cư đến đâu thì địa bàn gốc của họ cũng kéo dài đến đó. Địa bàn này là gia hương quốc thổ mà khi họ càng đi xuống phía Nam để định cư thì sẽ trở thành cố hương của họ. Đi xuống phía Nam, vô hình trung, là RA khỏi gia hương quốc thổ, là RA khỏi ĐẤT NHÀ để đi VÀO một vùng ĐẤT KHÁC. Vùng đất này ở phía NAM cố hương của họ cho nên đi VÀO vùng đất này là ĐI VÀO NAM. Rất rõ ràng mà đơn giản. Sự đối lập về nghĩa và ngữ dụng giữa RA/VÀO ở đây cũng giống hệt sự đối lập giữa hai từ này mà ta đã thấy trong ngữ đoạn “RA khỏi cánh rừng Y để VÀO thành phố Z”. Và rõ ràng là chính lối nói này (VÀO NAM, RA BẮC) đã đưa đến cách gọi Đàng Trong, Đàng Ngoài, đúng như GS Nguyễn Tài Cẩn đã chủ trương. Nhưng ta phải tránh cái sai lầm lớn lao mà có người đã phạm phải vì đã cho rằng, ở đây, TRONG là NHÀ, là “đất chính, đất của mình” (còn NGOÀI là KHÁCH), như có thể thấy trong đoạn tường thuật dưới đây của tác giả Phạm Văn Tình do corling đưa lênCorpus Linguistics (Vietnam) ngày 26-5- 2010:
“Gần đây, theo tác giả Roland Jacques (trong cuốn Những người Bồ Đào Nha tiên phong trong lĩnh vực Việt ngữ học, NXB Khoa học xã hội, 2007), thì cách giải thích của một thầy cả Dòng Tên (và cũng là một nhà ngữ học) người Bồ Đào Nha là Gaspar do Amaral (tài liệu công bố năm 1637) có nhiều luận cứ đáng tin cậy. Theo ông, sau khi Nhà Mạc chiếm quyền thắng thế ở Thăng Long, việc phục hồi nhà Lê lập tức được tiến hành. Năm 1545, nhà Mạc đã củng cố và xây dựng đắp luỹ, làm nên một “mật khu” ở Thanh Hoá, Nghệ An. Sau đó kinh đô Thăng Long bị mất, nhà Mạc rút về hậu cứ và kiên trì tìm cách lấy lại. Mãi đến năm 1592 nhà Mạc mới đoạt lại được đất đai từ tay kẻ “thoán nghịch” sau nhiều lần chinh chiến. Chính vào giai đoạn này người ta quen gọi vùng Thanh Hoá, Nghệ An là Đàng Trong (ngụ ý đất chính, đất của mình). Phần từ đó trở ra bắc gọi là Đàng Ngoài. Cũng phải thôi, vì với triều thần nhà Mạc, dải đất Thanh - Nghệ kia mới đáng là “trái tim” trong giang sơn của họ.”
Vậy theo thông tin do cố đạo Gaspar do Amaral cung cấp thì hai tên gọi Đàng Trong, Đàng Ngoài đã ra đời từ khoảng giữa thế kỷ XVI và chúng tôi thực sự tin tưởng ở thông tin này. Nhưng nói rằng Đàng Trong hàm ý chỉ “đất chính, đất của mình”, như đã thấy trong lời tường thuật trên đây, thì lại hoàn toàn sai. Chỉ hai câu điện thoại thông thường, giản dị dưới đây cũng đã đủ để bác bỏ cái cách hiểu “phản Việt ngữ” đó:
A (từ TPHCM): – Hẳn là Hà Nội đang khẩn trương chuẩn bị cho đại lễ 1.000 năm?
B (từ Hà Nội): – Ừ, NGOÀI NÀY đang khẩn trương lắm.
Có quá ngây ngô hoặc cực điên rồ mới dám nói (bậy) rằng NGOÀI NÀY không phải là “đất chính, đất của mình” đối với nhân vật B. Ngoài ra, cũng xin nói thêm rằng khi nhà Mạc suy vong và chạy lên Cao Bằng thì “đất chính, đất của mình” của dòng họ này lại “di dời” lên tận Đàng Trên chứ đâu có còn ở “Đàng Trong” nữa. Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum (Từ điển Việt Bồ La) của cố đạo A. de Rhodes (Roma, 1651) ghi nhận danh ngữ đàng tlên (tức Đàng Trên) mà lời giảng đã được nhóm Thanh Lãng dịch là “những tỉnh ở rừng núi”. Bấy nhiêu cứ liệu đã đủ để phế truất cái cách hiểu Đàng Trong là “đất chính, đất của mình” rồi. Vậy xin mọi người vui lòng rũ bỏ cái ý “đất chính, đất của mình” ra khỏi từ TRONG của danh ngữ Đàng Trong. Tiếc rằng trong bài viết trên đây, tác giả Phạm Văn Tình còn gắn cả nội dung này vào cách hiểu của nhà Nguyễn mà viết tiếp:
“Thực tế, đã có một sự chuyển đổi, do vào thời Trịnh Nguyễn, sự khác biệt địa lí rõ rệt của hai vùng đất nước (thuộc hai triều chính khác nhau) đã tạo nên một nét nghĩa địa lí mới cho Đàng Trong vàĐàng Ngoài. Và cũng chỉ người ở phía Nhà Nguyễn ưa dùng cặp từ trái nghĩa này hơn. Bởi lẽ, như đã nói ở trên, Đàng Trong được coi là trung tâm, là tiêu điểm giang sơn, là đáng trọng, còn ngoài vùng đó (Đàng Ngoài) là “đất của mình nhưng tạm thời do người khác chiếm đoạt”. Âu cũng là một nét nghĩa mang dấu ấn lịch sử mà ta cần tham khảo.”
Ta không biết trên đây có đích thực là quan niệm của “người ở phía Nhà Nguyễn” hay chỉ là do ông Phạm Văn Tình suy diễn nhưng dù là của ai thì cũng xin thưa với các vị rằng, trong tiếng Việt, TRÊN, DƯỚI, TRONG, NGOÀI đều có thể là “đất chính, đất của mình” cả. Hai địa danh dân dã ĐÀNG TRONG/ĐÀNG NGOÀI chỉ là hệ quả của lối nói VÀO NAM/RA BẮC; còn lối nói VÀO NAM/RA BẮC thì chính nó lại bắt nguồn từ quan niệm RA KHỎI ĐẤT NHÀ MÀ VÀO ĐẤT NGƯỜI KHÁC, chứ không phải từ bất cứ quan niệm kỳ thị nào. Đằng sau lối nói đó là bóng dáng của những cuộc di dân từ Bắc xuống Nam, những đợt Nam tiến.
Sunday, 18 March 2012
Do đâu mà có từ Vu Lan?
Ở Việt Nam ngày xá tội vong nhân vào rằm tháng bảy âm lịch hàng năm (sách vở tiếng Anh dịch là Ullambana Festival, Avalambana Festival, Ghost Festival..), còn được gọi là lễ cúng cô hồn hay lễ Vu Lan. Ở Trung Quốc gọi lễ này được goi là盂蘭盆會 (âm Hán Việt là Vu Lan Bồn Hội), trước đó là烏藍婆 (âm Hán Việt: ô lam bà) / 烏藍婆拏 (âm Hán Việt: ô lam bà noa). Tuy nhiên giới học thuật không có sự nhất trí về nguồn gốc của 盂蘭盆, 烏藍婆, 烏藍婆拏.
Một số tác giả cho rằng các từ đang xét trong tiếng Hán chỉ là phiên âm của ullambana trong tiếng Xăng-crít, có quan hệ gần gũi với lambana (nghĩa là treo) hoặc avalamba (nghĩa là treo ngược), diễn tả tình trạng khổ ải cùng cực.Theo hướng tìm kiếm này, có tác giả cho rằng từ gốc không phải là ullambana mà phải là ullambhana mới đúng. Người khác lại bảo avalambana mới đúng. Một số khác thì cho rằng 盆 (bồn) không phải là từ mượn âm mà là một từ Hán có nghĩa, chỉ một vật dụng đựng thực phẩm cúng dường.
Một trường phái khác cho rằng các từ ngữ Hán mượn âm tiếng Pa-li ullumpana mà nguyên mẫu là động từ ullumpati với nghĩa là cứu, giúp (cứu vớt, cứu độ...). Không loại trừ khả năng ullumpana đuợc chuyển tự sang tiếng Xăng-crít là ullambana rồi từ đó đi vào kinh sách chữ Hán. Giả thuyết các nhà sư Trung Hoa đọc tiếng Pali và chuyển thẳng âm u thành âm a, cũng không phải là không thể xảy ra, bởi vì từ mượn âm không nhất thiết phải giống hệt âm gốc, chuyển tự (thường nhưng) không luôn luôn tuân theo một quy luật nhất định.
Các học giả đều cố công đưa ra nhiều bằng chứng góp phần khẳng định giả thuyết của mình và/hoặc bác bỏ cách lý giải của người khác. Nhìn chung, các bằng chứng đó đều dựa trên sự gần gũi về ngữ âm giữa từ mượn và từ được giả định là nguồn gốc, và/hoặc ý nghĩa giả định của từ gốc phù hợp đến mức độ nào với các đặc tính quan trọng của lễ Vu Lan (treo ngược, hành hạ, giải thoát...). Không có học giả nào đưa ra ngữ liệu ghi nhận thời điểm xuất hiện của 盂蘭盆, 烏藍婆, 烏藍婆拏... cũng như tên người chế tác / sử dụng đầu tiên và nguồn tư liệu của người đó. Do đó tất cả các cách kiến giải về tổ tiên xa xưa của Vu Lan đều có giá trị hạn chế như nhau, mặc dù tất cả các cách kiến giải ấy đều rất lý thú.
Subscribe to:
Posts (Atom)
