Sunday 10 March 2013

Tư tưởng chủ thể là gì?



Tư tưởng chủ thể là tư tưởng chính thống của nhà nước Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên. Chữ Triều Tiên là 주체사상, đọc là juche sasang; chữ Hán là 思想, âm Hán Việt là chủ thể tư tưởng. Học thuyết này cho rằng con người là chủ thể của tất cả mọi thứ trên đời này và quyết định tất cả mọi thứ. Vận dụng ý này vào hoàn cảnh cách mạng Triều Tiên thì người Triều Tiên chính là chủ thể của cuộc cách mạng đó.
Tất nhiên cả một hệ tư tưởng của một chế độ chính trị không chỉ đơn giản có thế. Bắc Triều Tiên có cả một đội ngũ hùng hậu các nhà lý luận chuyên làm công việc bồi da đắp thịt cho Juche. Juche phức tạp đến nỗi người phương Tây cảm thấy khó dịch trọn vẹn nội dung của thuật ngữ này, thường chọn giải pháp là phiên âm: tiếng Anh là Juche Idea, tiếng Pháp là Idées du Juche.
Tư tưởng chủ thể là sản phẩm trí tuệ của Kim Nhật Thành, nhà lãnh đạo sáng lập Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên. Một số nhà nghiên cứu Bắc Triều Tiên cho rằng Kim Nhật Thành đã có một số ý tưởng nền móng cho tư tưởng chủ thể từ những năm 30 của thế kỷ trước khi Người vừa đến tuổi 18. Nhưng bọn học giả phản động cho rằng nâng bi như vậy là sống sượng quá mức. Nói chung cả hai bên chỉ nhất trí với nhau ở điểm là trong thời gian từ 1955 đến 1970 tư tưởng chủ thể được Kim Nhật Thành tổ chức triển khai thành nguyên tắc điều hành, quản lý mọi mặt sinh hoạt của xã hội Bắc Triều Tiên. Năm 1972 tư tưởng chủ thể được đưa vào bản hiến pháp mới thay thế cho chủ nghĩa Mác Lê Nin, nhưng được định nghĩa như là một vận dụng sáng tạo của chủ nghĩa Mác Lê Nin.
Điều đáng ngạc nhiên là trong suốt ba, bốn mươi năm quan hệ hữu nghị Việt Triều, hầu như không người Việt nào biết tư tưởng chủ thể là cái gì, mặc dù Bắc Triều Tiên là một đồng minh thân cận của Bắc Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Để duy trì thế đi dây đầy khó khăn giữa hai người bạn lớn là Liên Xô và Trung Quốc, Bắc Việt Nam không muốn dính dấp vào bất kỳ cuộc tranh cãi nào về lý thuyết. Nhà lãnh đạo kiệt xuất của Việt Nam là chủ tịch Hồ Chí Minh còn khiêm tốn tuyên bố rằng ông không có tư tưởng nào khác ngoài chủ nghĩa Mác Lê Nin, rằng Xta-lin và Mao Trạch Đông đã nghĩ, đã nói tất cả rồi.
Sau khi Liên Xô và các nước dân chủ nhân dân ở Đông Âu sụp đổ, các nhà lý luận ở Việt Nam phải đối mặt với một cục diện đầy khó khăn. Hệ thống thuật ngữ và khái niệm vẫn vận hành trước đó bị giảm sút uy tín, có nguy cơ phá sản và cần được thay thế gấp. Một trong những thành tựu mới mẻ và quan trọng nhất của giới lý luận nước ta là thuật ngữ “tư tưởng Hồ Chí Minh”. Thuật ngữ này giúp các nhà lý luận nước ta có được khoảng cách an toàn với tất cả những gì trót làm chủ nghĩa xã hội chịu nhiều tai tiếng trong lịch sử. Tư tưởng chủ thể trước đây có lúc đã gây nghi ngại trong bối cảnh xung đột Xô Trung thì hiện nay đã trở nên vô hại. Trên sách báo người ta bắt đầu đọc được nào là tư tưởng chủ thể, cách mạng chủ thể, sự nghiệp chủ thể hóa, học thuyết chủ thể, tượng đài chủ thể...
Bắc Triều Tiên có tư tưởng của Bắc Triều Tiên. Tại sao ta không thể có tư tưởng của ta?

Friday 1 March 2013

TỪ NGỮ GỐC CHĂM TRONG TIẾNG VIỆT - Lý Tùng Hiếu & Lê Trung Hoa

TS. LÝ TÙNG HIẾU - PGS.TS. LÊ TRUNG HOA
(Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM)

Quá trình tiếp xúc ngôn ngữ với tiếng Chăm trong suốt hai ngàn năm lịch sử, đặc biệt là trong thời kỳ trung đại, đã để lại dấu ấn sâu đậm trong tiếng Việt Trung Bộ và Nam Bộ. Cùng với các sản phẩm văn hoá, một loạt từ ngữ tiếng Chăm đã đi vào tiếng Việt ở Trung và Nam Trung Bộ, và được lưu dân Việt chuyển tiếp vào Nam Bộ. Vì vậy, trong tiếng Việt ở Trung Bộ và Nam Bộ có thêm một bộ phận từ vựng gốc Chăm, chưa kể các địa danh, góp phần làm nên sự khác biệt của các phương ngữ tiếng Việt ở Trung Bộ và Nam Bộ so với phương ngữ Bắc ở địa bàn Bắc Bộ. Điều đó phản ánh mức độ ảnh hưởng sâu sắc của văn hoá Chăm đối với văn hoá Việt trên vùng đất phía nam.
Đây là một bộ phận từ vựng của tiếng Việt ở Trung Bộ và Nam Bộ mà cho đến nay vẫn chưa được nhiều người biết đến, trong khi các từ ngữ gốc Khơ-me, gốc Hoa, gốc Pháp, gốc Mỹ đã được nhiều người quan tâm nghiên cứu.
ooOoo
Nội dung ngữ nghĩa của bộ phận từ vựng gốc Chăm này đại để có thể chia thành năm nhóm, phản ánh năm bình diện văn hoá mà cư dân Việt ở Trung Bộ và Nam Bộ đã ít nhiều chịu ảnh hưởng của người Chăm:
- Cách thức hoạt động sản xuất: các giống cây trồng, các giống vật nuôi, ky thuật canh tác, công cụ...
- Cách thức ăn, mặc, ở, đi lại: ẩm thực, trang phục, cư trú, giao thông vận tải...
- Cách thức tổ chức xã hội cổ truyền: con người, quan hệ thân tộc...
- Tín ngưỡng, phong tục, lễ hội.
- Ngôn ngữ: cấu tạo đại từ, động từ, tính từ.

Bảng so sánh từ vựng tiếng Chăm và
từ vựng gốc Chăm trong tiếng Việt Trung Bộ và Nam Bộ
Tiếng Chăm Ninh Thuận
và Bình Thuận
Tiếng Việt Trung Bộ
và Nam Bộ
Cách thức hoạt động sản xuất
blang "sân, láng"
láng
c`hak`ăc "chà gặt"
chà gặt
kađung "(lúa) cà đung"
(lúa) cà đung
karu(ng "rộng (cá)"
rộng (cá)
kruăk "(cá) rô"
(cá) 
k`ai p`ô "cây vồ"
cây vồ
palao "đảo, cù lao"
cù lao
(pat`ai) bareng "(lúa) ?"
(lúa) bà rên
(pat`ai) ia parak "(lúa) nước-?"
(lúa) bà rịa
(pat`ai) ia patău "(lúa) nước-đá"
(lúa) bà tâu
(pat`ai) kuprauk "(lúa) ?"
(lúa) cu tró, (lúa) cổ chó
(pat`ai) ôik mưh "(lúa) nàng-vàng"
(lúa) ối mứ
(pat`ai) ôik pô "(lúa) nàng-chủ"
(lúa) ối bô
(pat`ai) p`hông "(lúa) đỏ"
(lúa) hồng ngự
(pat`ai) rai "(lúa) rụng, (lúa) rài"
(lúa) rài
pat`ang "loại đất nhiễm mặn, có muối nổi trên mặt"
cà dang (Trung Bộ)
rato(ngrito(ng"(cá) lòng tong"
(cá) lòng tong
ri(n "cá linh"
(cá) linh
tak`alào "bằng lăng"
thao lao
tiong"(chim) yểng"
(chim) nhồng
Cách thức ăn, mặc, ở, đi lại
chai "nhựa, tinh dầu, dầu chai"
chaidầu chai
đuơng "dòi"
đuông (ăn đọt dừa, cau, chà là)
kađauk "đụt (mưa)"
đụt (mưa)
kakeh "cạy"
cạy (động tác chèo)
karah "nhẫn"
cà rá
klek "(cái) trách"
trách
k`ai patok "cây chống xe"
cây tó
k`e "ghe, bè, đò"
ghe
k`lah "(cái) trã"
trã
k`ok om "niêu, nồi nhỏ"
om (nồi đất nhỏ)
lôi "bơi, lội"
lội
pro(ng "lớn"
(nước) rông
p`ăk "kéo"
bác (động tác chèo)
p`lu "(cái) lu"
lu
ratăng "cà tăng"
cà tăng
thro(k"vơi, rút, ròng, rặc"
(nước) rặc
traik"(cây) dầu rái"
(cây) dầu rái
t`ăng "đứngdừng"
(nước) nhửng
Cách thức tổ chức xã hội cổ truyền
anưk rineh"con trẻ, trẻ con"
con nít con nôi
Chăm "Chàm, Chăm"
ChàmChăm
(Chăm) Hroi "(Chăm) Hroi"
(người, ma, ru) Hời
(Chăm) Hroi "(Chăm) Hroi"
(thành, muối) Lồi
halai "(con) thứ hai trở đi"
(con) rạ
kachua "(con) đầu lòng"
(con) so
kamay "đàn bà, nữ, gái"
(đàn ông) gà mái
likay "đàn ông, nam, trai"
(đàn bà) lại cái
muk"bà, mụ"
mụ (Trung Bộ)
mưnuih"người"
nậunẩu
ông"ông"
ôông (Trung Bộ)
rak "hắc lào"
lác
takai"chân"
cẳng
Tín ngưỡng, phong tục, lễ hội
dang "thần"
dàng (trời)
patao ia "thuỷ thần"
ma da
ikankan "cá"
(Đại) Càn (Nam Hải Đại Vương)
PôDang Inư Nưk`ăn "Thần-Mẹ-Xứ sở, Bà Chúa Xứ"
Thiên Y A NaBà Chúa Xứ
Ngôn ngữ
băng "lần, lượt"
bận
bông "trắng, sạch"
(trắng, sạch) bong
bông baik "sạch sành sanh"
(sạch) bách
chăn văn "bận rộn"
xăng văng
haluh, luh "cùn, mòn"
lụt
hap "đẹt, cằn"
(già, chín) háp
kêrê kăknan "bất hòa"
ke re cắc rắc
khiăk "cháy, khét"
khét
k`alè(c "cù"
cù lécchọc lécthọc léc
k`amrằm "quạu quọ"
càm ràm
k`anằn "kiêu ngạo"
cà nanh
k`anik "chật, hẹp"
(chật) ních
k`at "gạt, dối, lừa"
gạt
k`inòng "giận"
(giận, tức) cành hông
k`ơng"(già) khằn"
(già) khằn
lit`i lit`ia "rề rà"
cà rịch cà tang
miêt"mãi"
miết
nek"né, tránh"
praih praihkraih kraih "rỉ rả, rả rích"
lai rai
p`arằng p`arằng "mọi vật, mọi sự"
(trăm thứ) bà rằnghằm bà lằng
rah p`ah "quanh quẩn, loanh quanh"
cà rà
ralô panôik "ba hoa, lắm chuyện"
bô lô ba la
ray"vậy"
ri (Trung Bộ)
re ro"rón rén, lân la, lò mò"
rị mọ
rik "kéo cho khít"
(khít) rịch
ri(k "cổ, xưa"
(cũ) rích
ro ro "trơn tru"
ro ro
s`ao rào"chộn rộn, xôn xao"
chạo rạochộn rộn
truh "trui, tôi"
trui
t`ăng săng "đứng sững"
đứng chựng
t`êh"đó, nọ, kia"
 (Trung Bộ)
xit / axit "nhỏ, bé, tí"
(nhỏ) nhít
(Nguồn: Lý Tùng Hiếu & Lê Trung Hoa, Văn hoá Việt Nam qua ngôn ngữ, giáo trình nội bộ, Khoa Văn hoá học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP. Hồ Chí Minh, 2011)