Saturday, 21 July 2012

Không là lính thì là gì ? (Năng Lượng Mới số 135 ,6-7-2012). An Chi / Huệ Thiên

Không là lính thì là gì ? (Năng Lượng Mới số 135 ,6-7-2012).

by An Chi on Friday, July 6, 2012 at 9:50am ·
      Bạn đọc : Chung quanh việc ông cố đạo Alexandre de Rhodes muốn xin người bằng từ “soldat”, xin ông An Chi cho hỏi : “Soldat” là lính hay là thừa sai? Tôi để ý trên các báo ông cộng tác, thấy hình như ông chưa góp ý kiến về chuyện này.
                                                                                                    (Một người bạn ở Hà Nội).
        An Chi : Trước nhất, xin chép lại cái câu hữu quan của Alexandre de Rhodes trong cuốn Divers voyages et missions (Cramoisy, Paris,1653):
J’ai cru que la France, étant le plus pieux royaume de monde, me fournirait plusieurs soldats qui aillent à la conquête de tout L’ Orient, pour l’assujetter à Jésus Christ, et particulièrement que j’y trouverais moyen d’avoir des Évêques, qui fussent nos pères et nos maitres en ces Églises.
Xin dịch như sau:
“ Tôi tin rằng, (vì) là vương quốc sùng đạo nhất thế giới, nước Pháp sẽ cấp cho tôi nhiều binh sĩ lên đường chinh phục toàn cõi Phương Đông để bắt nó quy phục Jesus Christ, và đặc biệt là ở đó tôi sẽ tìm ra cách để có được các Đức Giám mục, từng là các cha  và các thầy của chúng ta tại các giáo đoàn đó.”
“Soldat” ở đây hiển nhiên là lính. Nhưng, để chống chế cho A. de Rhodes, một số tác giả đã suy luận theo chủ quan hầu chứng minh rằng ông cố đạo này chỉ xin thêm người truyền đạo, chứ không xin lính tráng. Điển hình là ý kiến của GS Đinh Xuân Lâm, mà tác giả Chương Thâu đã tường thuật như sau trong bài “Từ một câu chữ của A. de Rhodes đến các dẫn dụng khác nhau”:
“Cũng vào thời gian cuối tháng 3-1993, tại một cuộc Hội thảo “Tưởng niệm A. de Rhodes, nhân 400 năm ngày sinh của ông” do Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức tại Hội trường Viện Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, có nhiều nhà khoa học tham dự, đọc tham luận. Trong đó Giáo sư sử học Ðinh Xuân Lâm, một lần nữa lại đề cập “câu chữ” trên đây của A. de Rhodes và dịch lại (theo đúng văn cảnh, bối cảnh lịch sử thế kỷ 17) cụm từ plusieurs soldats là “chiến sĩ truyền giáo”, và coi như “lần cuối cùng đính chính lại sự lầm lẫn” (dịch soldat là lính chiến, là quân lính đi xâm lược) như trước đây trong một số giáo trình lịch sử Việt Nam đã dẫn dụng.”
                                                                                 (Công giáo và Dân tộc, ngày 15.3.1996).
GS Đinh Xuân Lâm là người “lần cuối cùng đính chính lại sự lầm lẫn” còn ông Chương Thâu thì khẳng định đó là “dịch lại theo đúng văn cảnh, bối cảnh lịch sử thế kỷ17”. Thực ra thì, dù là ở thế kỷ XVII, danh từ soldat của tiếng Pháp cũng tuyệt đối không có nghĩa là “chiến sĩ truyền giáo”. Xưa nay, nó vẫn chỉ có nghĩa là lính mà thôi. Về các tư liệu cùng thời với A. de Rhodes, trên tongiaovadantoc.com  ngày 28-1-2012, tác giả Bùi Kha đã đưa ra dẫn chứng từ hai cuốn : A Dictionarie of the French and English tongves của  Randle Cotgrave (London, 1611) và Le Dictionnaire de L’Académie Françoise (1ère édition, 1694). Cuốn trước cho :  “Soldat: m. A soldier; one that followes the warres”. Cuốn sau thì : “Soldat : s.m. Home de guerre, qui est à la solde d’un Prince, d’un Estat”. Nhưng Bùi Kha chỉ đơn giản diễn ý của hai cuốn từ điển đó là “chữ soldat: giống đực, số ít, có nghĩa là binh lính, người có súng.” Trên cơ sở sự trích dẫn của ông, chúng tôi mạn phép phân tích thêm như sau :
Trong lời giảng của quyển trước thì “soldier” hiển nhiên có nghĩa là “lính” còn “one that followes the warres” là tiếng Anh thế kỷ XVII mà nếu diễn đạt theo tiếng Anh hiện đại thì sẽ là “one who follows the wars”. Ngoài quyển từ điển Bùi Kha đã dẫn, ta còn có thể thấy ngữ đoạn vị từ “follow the wars” tại hồi V, cảnh II trong vở The Dutchess of Malfi của John Webster. Nếu vào “John Webster's The Duchess of Malfi: text, notes, and commentary” của Larry A. Brown, ta sẽ thấy “follow the wars” được giảng là “become a mercenary”, nghĩa là “ trở thành lính đánh thuê”. Vậy, với quyển từ điển trước thì “soldat” là “lính; lính đánh thuê”. Còn với quyển sau thì đó là “ chiến binh, (kẻ) hưởng lương của một hoàng thân, một quốc gia”. Không có bắt cứ một nét nghĩa lớn, nhỏ nào liên quan đến các khái niệm “thừa sai” hoặc “ truyền giáo”, như một số tác giả, đặc biệt là GS Đinh Xuân Lâm, đã gán ghép cho từ “soldat”.
Chúng tôi thiển nghĩ không ai cấm cản nhà sử học vận dụng cứ liệu ngữ học làm chỗ dựa cho việc nghiên cứu của mình; chỉ xin nhấn mạnh rằng đó phải là cứ liệu chính xác của ngữ học, còn nếu là của chính nhà sử học thì ông ta phải là người có kiến thức ngữ học chắc chắn. Về danh từ “soldat” thìDictionnaire Hachette, édition 2005, đã cho tại nghĩa 3 như sau : “figlitt. Celui qui se bat pour une cause, un idéal. Soldats de la foi.” ([nghĩa] bóng, văn chương. Người chiến đấu cho một sự nghiệp, một lý tưởng. [Thí dụ]: Những chiến sĩ của đức tin). Chỉ cần nhạy bén một chút xíu, ta cũng có thể thấy rằng danh từ “soldat” cần phải có một “complément de nom prépositionnel” (CdNP – bổ ngữ của danh từ được kết nối bằng giới từ ), ở đây là “ de la foi” (của đức tin), thì mới có thể mang cái nghĩa đó. Điều này đã được tác giả Lý Đương Nhiên chỉ ra một cách chí lý :
“Tôi đã lớn tuổi, có đọc sách hiểu rằng chữ “chiến sĩ” đứng một mình có nghĩa chỉ về quân đội. Chữ “chiến sĩ” muốn có thêm nghĩa bóng hoặc văn vẻ thì phải thêm chữ chỉ nghĩa vào đằng sau, như: chiến sĩ văn hoá, chiến sĩ tự do, chiến sĩ Phúc Âm...” (“Chữ ‘plusieurs soldats’ thời A. D. Rhodes”,sachhiem.net, ngày 14-3-2009).
Cái mà Lý Đương Nhiên diễn đạt bằng hai chữ “nghĩa bóng” chính là chú thích “fig” (figuré) trongDictionnaire Hachette, cái mà ông nói là “văn vẻ” thì chính là chú thích “litt” (littéraire) trong quyển từ điển này còn cái mà ông gọi là “chữ chỉ nghĩa [thêm] vào đằng sau” thì chính là cái mà chúng tôi gọi là CdNP. Chỉ hiềm một nỗi là thay vì “soldat”, Lý Đương Nhiên lại viết  “chiến sĩ”, đồng thời cách diễn đạt của ông cũng không thật sự “chuyên môn” về ngữ pháp. Nhưng ý kiến của ông, một người “lớn tuổi, có đọc sách” thì hoàn toàn chính xác. Vấn đề lại càng rõ hơn, khi ta mở Le Petit Robert ra ở mục “soldat”. Tại nghĩa 3 của nó, ta đọc được : “ FIG. Celui qui combat pour la défense ou le triomphe de ( une croyance, un idéal). Un soldat du Christde la liberté.” (Người chiến đấu vì sự bảo vệ [đối với] hoặc cho sự chiến thắng của [một đức tin, một lý tưởng]. Một chiến sĩ của Ki của tự do). Sự có mặt của giới từ “de” ở cuối lời giảng bằng tiếng Pháp cho phép ta khẳng định rằng nếu chỉ được dùng một mình (không có CdNP đi theo) thì “soldat” tuyệt đối không thể có nghĩa là “chiến sĩ truyền giáo”. Mà ngay cả khi có CdNP đi theo thì nó cũng đâu có nhất thiết có nghĩa đó. “Soldat de la liberté” (chiến sĩ của tự do), “soldat de la science” (chiến sĩ của khoa học), “soldat de la paix” (chiến sĩ [đấu tranh vì] hoà bình), “soldat des droits de l’homme” (chiến sĩ [đấu tranh vì] nhân quyền), v.v., chẳng hạn, thì dính dáng gì đến truyền giáo! Chỉ có khi nào nói rõ “soldat de l’Évangile” (chiến sĩ Phúc âm) thì đó mới là “chiến sĩ truyền giáo”.
Nhưng để cho càng rõ hơn nữa, xin dẫn Le Grand Robert.  Sau những phần giảng giải cực kỳ chi tiết và những thí dụ phong phú  về từ “soldat”, quyển này có một mục phụ rất ngắn gọn:
Soldat de …, qui combat pour la défense ou le triomphe de …” (người chiến đấu tranh để bảo vệ cho hoặc vì chiến thắng của …).
Cái “khuôn đúc” “soldat de …” chỉ rõ rằng nếu không có CdNP đi theo sau nó thì từ tổ này tuyệt đối không thể có cái nghĩa “ qui combat pour la défense ou le triomphe de …”. Từ đây suy ra, dịch “soldat(s)” (không có CdNP) trong câu văn của A. de Rhodes thành “chiến sĩ truyền giáo”  thì không thể xem là đã dịch đúng.

No comments:

Post a Comment